được sưu tầm bởi HXK

đây chỉ là những thông tin về những người mà tôi cho rằng họ giỏi, tôi khâm phục họ, tìm hiểu họ qua cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm cũng như tư tưởng của họ để lại trên thế gian này. cho những con người của thời đại họ sống và cho hậu thế.

Monday, October 25, 2010

tiểu sử Nhà thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính (tên thật là Nguyễn Trọng Bính; 19181966) là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của Việt Nam. Thơ ông phần lớn là thơ tình nhưng mang một sắc thái quê mùa, dân dã riêng biệt. Cùng với Xuân Diệu, ông được mệnh danh là "Vua thơ tình" [1].

Tiểu sử

Thân thế

Nguyễn Bính sinh năm 1918 với tên thật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyệnVụ Bản, tỉnh Nam Định).[2]

Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính.

Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng. Đúng như câu thơ ông viết:

Còn tôi sống xót là may

Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Mấy năm sau ông Bình cưới bà Phạm Thị Duyên làm kế mẫu (bà sinh được bốn người con hai trai hai gái).

Bà cả Giần là chị ruột của mẹ Nguyễn Bính, nhà bà lại giầu có, nên bà cùng ông Bùi Trình Khiêm là cậu ruột của Nguyễn Bính và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn, đón ba anh em Nguyễn Bính về nuôi cho ăn học. Nguyễn Bính làm thơ từ thủa bé, được cậu Khiêm khen hay nên được cưng

Năm 13 tuổi Nguyễn Bính được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng với sáng tác:

...Anh đố em này:

Làng ta chưa vợ mấy người ?

Chưa chồng mấy ả, em thời biết không

Đố ai đi khắp tây đông,

Làm sao kiếm nổi tấm chồng như chúng anh đây?

Làm sao như rượu mới say,

Như giăng mới mọc, như cây mới trồng ?

Làm sao như vợ như chồng ?

Làm sao cho thỏa má hồng răng đen

Làm sao cho tỏ hơi đèn ?

Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?

Làm sao ? anh khen em tài ?

Làm sao ? em đáp một lời làm sao ... ?[3]

Trúc Đường thi đỗ thành trung (đíplôm) vào loại giỏi ở Hà Nội, rồi dạy học trong một trường tư thục ở Hà Đông, Trúc Đường bắt đầu viết văn và làm thơ. Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền đạt cho Nguyễn Bính văn học Pháp. Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó Với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống.

Thi sĩ giang hồ

Năm 1932, 1933 Nguyễn Bính có theo người bạn học ở thôn Vân lên Đồng Hỉ Thái Nguyên dạy học, có lẽ những vần thơ như:

Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh

Áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm

Da trời ai nhuộm mà lam

Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai

Là được Nguyễn Bính viết trong thời gian này.

Bài thơ của ông được đăng báo đầu tiên là bài Cô hái mơ. Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi tới dự thi và đã được giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn. Họa sĩ Nguyệt Hồ nhớ lại: Tôi quen Nguyễn Bính từ khi anh chưa có tiếng tăm gì, ngày ngày ôm tập thơ đến làm quen với các tòa soạn báo. Tôi thích thơ anh và đã giới thiệu anh với Lê Tràng Kiều, chủ bút Tiểu thuyết Thứ Năm, đã đăng bài "Cô hái mơ", bài thơ đầu tiên của anh đăng báo. Tôi khuyên anh gửi thơ dự thi, và anh đã chiếm giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn... chúng tôi thân nhau từ đó, khoảng 1936-1940, quãng đầu đời thơ của anh...[4]

Từ năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá dày, đề tài phong phú, trong đó chủ yếu là thơ tình. Cũng trong năm này Trúc Đường chuyển ra Hà Nội ở và đang viết truyện dài Nhan sắc, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đi Huế tìm đề tài sáng tác. Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, ông đã cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh (vật báu duy nhất của gia đình) đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính.

Vào Huế Nguyễn Bính Gửi thơ ra cho Trúc Đường đọc trước, rồi đăng báo sau. Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Trúc Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: Xuân tha hương Oan nghiệt. Sau đó Nguyễn Bính lại trở về Hà Nội, rồi lại đi vào Sài Gòn.

Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn. Trong thời gian này Nguyễn Bính đã gặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây...

Cũng trong thời gian này Nguyễn Văn Thịnh (Thủ tướng chính phủ "Nam Kỳ tự trị") có treo giải: Ai đưa được nhà thơ Nguyễn Bính "dinh tê" (vào thành) theo chính phủ ("Nam Kỳ tự trị") sẽ được thưởng 1000 đồng Đông Dương! Nếu nhà thơ tự vào thành cũng được hưởng như thế(1000 đồng Đông Dương hồi đó là cả một cơ nghiệp). Nhiều thi sĩ là bạn Nguyễn Bính viết thư "thuyết khách" mời ông vào. Hồi đó ông đang lang thang ở Rạch Giá, ngày thì ăn ở nhờ một người bạn, đêm ra đình ngủ, ông chỉ có cái bao cói để chui vào cho khỏi muỗi, nên có nhiều người tưởng ông vào thành với Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ. Ấy vậy mà trong một bài thơ của mình ông đã viết hai câu khẳng định:

...Mình không bỏ Sở sang Tề

Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi.

Nhiều người ở Nam Bộ hồi đó biết chuyện gọi Nguyễn Bính là có chí khí của một sĩ phu yêu nước.

Năm 1947 Nguyễn Bính đi theo Việt Minh, việc này được Bảo Định Giang nhớ lại: Tôi không nhớ rõ cuối 1947 hay đầu năm 1948, khoảng 3 giờ chiều, em bé giúp việc cho tôi chạy vào nơi tôi làm việc bảo: "Có một người xưng là Nguyễn Bính đến đây muốn gặp chú"...Trên thực tế, Nguyễn Bính đã ra nhập đội ngũ Vệ quốc đoàn từ 3 giờ chiều hôm đó vì Bộ Tư lệnh là đồng chí Trần Văn Trà và đồng chí Nguyễn Văn Vịnhđã chấp nhận yêu cầu của tôi ngay ngày hôm sau. Chẳng những chấp nhận mà các đồng chí còn dặn tôi: "đối đãi đàng hoàng, chăm sóc chu đáo tác giả Lỡ bước sang ngang"

Nhưng theo lời giới thiệu của Đỗ Đình Thọ trong tập Thơ tình Nguyễn Bính, xuất bản năm 1991 thì Nguyễn Bính đã đến với cách mạng khá sớm - ngay từ 1945 trước ngày khởi nghĩa tháng tám.

Một thời gian sau, nhờ sự mai mối của ông Lê Duẩn, ông kết hôn với bà Nguyễn Hồng Châu (một cán bộ Việt Minh), ông sinh một con gái với bà này, đặt tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau đó ông lại kết hôn với bà Mai Thị Mới, ở ấp Hương Mai, xã Khánh Lâm, huyện U Minh và lại sinh một con gái được đặt tên là Nguyễn Hương Mai. Trong thời gian này máy bay Pháp lượn vòng từ đập đá dài theo kênh chắc băng xuống Thới Bình, rải truyền đơn kêu gọi đích danh tác giả Lỡ bước sang ngang - Nguyễn Bính "quay về với chính nghĩa Quốc gia để được trọng đãi"[5]

Năm 1954 theo Hiệp định Genève, Nguyễn Bính cũng như bao cán bộ Việt Minh khác tập kết ra Bắc. Ông về công tác tại Nhà xuất bản Văn nghệ, sau đó ông làm chủ bút báo Trăm hoa.

Báo Trăm hoa

Lúc đầu Trăm hoa là một tờ báo do Nguyễn Mạnh Phác làm Chủ nhiệm, còn có phụ đề là "tuần báo tiểu thuyết", toà soạn đặt tại 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội, gọi là tuần báo nhưng khuôn khổ lại có vẻ "tạp chí" nhiều hơn . Số 1 ra ngày 2/9/1955. Tờ Trăm hoa loại cũ cỡ nhỏ này ra được cả thảy 31 số, tồn tại từ tháng 9/1955 đến giữa tháng 5/1956 ; mỗi số thường có 26 trang ruột và 4 trang bìa, khổ báo 18x26 cm ; ban đầu trang bìa chỉ ghi chức danh Chủ nhiệm Nguyễn Mạnh Phác; từ số 11 (19/11/1955) trên tiêu đề mới xuất hiện thêm chức danh Chủ bút Nguyễn Bính.

Tuần báo Trăm hoa do Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là Trăm hoa loại mới, toà soạn đặt tại 17 Lê Văn Hưu, Hà Nội ; số 1 loại mới ra ngày thứ bảy 20/10/1956 ; sau số 11 ( chủ nhật 6/1/1957) là hai số cuối cùng, đều không đánh số : Trăm hoa Xuân, và Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân, đều phát hành trước và sau Tết Đinh Tỵ. Trăm hoa số thường gồm 8 trang in typo 28x40cm giá bán 300 đ; hai số cuối là hai đặc san : Trăm hoa Xuân gồm 24 trang giá bán 1000 đ, phát hành từ 23 Tết ; Trăm hoa số đặc biệt đầu Xuân gồm 16 trang giá bán 600 đ, phát hành đầu xuân Đinh Tỵ. Gọi là ban biên tập tòa soạn nhưng thực tế chỉ có bốn người đó là: Nguyễn Bính; Nguyễn Thị Hạnh (con gáiNguyễn Mạnh Phác); Phạm Vân Thanh (vợ Nguyễn Bính); và một người được Nguyễn Bính tuyển từ Nam Định lên tên là Trần Đức Quyền, ông này lấy bút danh là Tùng Quân

Cả hai tờ Trăm hoa và Trăm hoa loại mới đều là báo tư nhân. Trăm hoa của Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường) bị "chết" vì lỗ vốn , thì ít lâu sau Nguyễn Bính tục bản thành Trăm hoa loại mới, và tờ này cũng lại "chết" vì lỗ vốn . Ở miền Bắc khi đó báo chí và xuất bản tư nhân còn được phép tồn tại, nhưng phải bán với giá cao vì phải mua giấy giá cao hơn so với giá cung cấp dành cho các báo nhà nước và đoàn thể; các cơ sở phát hành lớn của hệ thống "hiệu sách nhân dân" không nhận bán các báo tư nhân; ngoài ra còn một trở ngại đáng kể là cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương thường gây trở ngại cho phóng viên và người phát hành các báo tư nhân.

Theo hồi ức của Tô Hoài : không biết ai đã giúp tiền cho Nguyễn Bính ra những số báo Trăm hoa đầu tiên, thế rồi "cấp trên" có sáng kiến lấy giấy và tiền nhà xuất bản Văn nghệ dúp Trăm hoa, và chính Tô Hoài được giao nhiệm vụ "thuyết phục một tờ báo tư nhân nhưng có tiếng nói chống những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn giai phẩm. Theo Tô Hoài, do sự can thiệp này, "tờ Trăm hoa rõ ra một vẻ khác. Không về bè với Nhân văn giai phẩm, nhưng chẳng đi với ai ". Cấp trên của Tô Hoài nhận xét từng số từng bài, "cho là chưa đủ hơi sức hỗ trợ cần thiết". Tô Hoài đem nhận xét ấy bàn lại với Nguyễn Bính. Nguyễn Bính bảo Tô Hoài : Trăm hoa phải thế mới là báo của Nguyễn Bính chứ. Nếu không thì mày làm quách cho xong !. Sáng kiến "đầu tư" cho Trăm hoa kết thúc ở đấy. Một buổi tối , Nguyễn Bính rủ Tô Hoài đến ăn ở nhà hàng Lục Quốc. Nguyễn Bính bảo: Hôm nay ăn cỗ đám ma Trăm hoa![6].

Những năm tháng ở Nam Định

Các tác phẩm

Trong suốt 30 năm, Nguyễn Bính đã sáng tác nhiều thể loại như thơ, kịch, truyện thơ... Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi ca. Ông được đông đảo độc giả công nhận như một trong các nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại.: Một số tác phẩm:

§ Qua Nhà (Yêu đương 1936)

§ Những bóng người trên sân ga (Thơ 1937)

§ Cô Hái Mơ (Thơ 1939)

§ Tương tư

§ Chân quê (Thơ 1940)

§ Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)

§ Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)

§ Hương Cố Nhân (Thơ 1941)

§ Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)

§ Sao chẳng về đây (Thơ 1941)

§ Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)

§ Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)

§ Mây Tần (Thơ 1942)

§ Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)

§ Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)

§ Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)

§ Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)

§ Trả Ta Về (Thơ 1955)

§ Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)

§ Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)

§ Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)

§ Tiếng Trống Đêm Xuân (Truyện Thơ 1958)

§ Tình Nghĩa Đôi Ta (Thơ 1960)

§ Cô Son (Chèo cổ 1961)

§ Đêm Sao Sáng (Thơ 1962)

§ Người Lái Đò Sông Vỹ (Chèo 1964)

Ngoài những tác phẩm kể trên, còn một số bài thơ viết trong năm 1964, 1965 1966 chưa kịp xuất bản.

Những bài thơ phổ nhạc

Thơ Nguyễn Bính có nhiều bài được phổ nhạc và cũng có nhiều nhạc sĩ phổ nhạc cho thơ của ông:

1. Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc và được Quốc Hương hát rất thành công đây được coi như là bài hát "tủ" của ca sĩ này

2. Người hàng xóm được Anh Bằng phổ thành ca khúc Bướm Trắng

3. Cô hái mơ được Phạm Duy phổ nhạc

4. Lỡ bước sang ngang được Song Ngọc phổ nhạc

5. Nhạc xuân được Đức Quỳnh phổ nhạc, Thanh Lan hát

6. Thời trước đượcVăn Phụng phổ nhạc thành bài Trăng sáng vườn chè]] và Hương Lan hát

7. Ghen được Trọng Khương phổ nhạc, Đức Tuấn trình bày

8. Gái xuân được Từ Vũ phổ nhạc, Thanh Lan trình bày

9. Cô lái đò được Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc, Ngọc Bảo trình bày

10. Chân quê

11. Tiền và lá

Tác phẩm

Các tác phẩm của Nguyễn Bính có thể chia làm hai dòng "lãng mạn" và "cách mạng" mà dòng nào cũng có số lượng đồ sộ nhưng khi nói về Nguyễn Bính là nói về nhà thơ lãng mạn của làng quê Việt Nam. Thơ Nguyễn Bính đến với bạn đọc như một cô gái quê kín đáo, mịn mà, duyên dáng. Người đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân tộc, gần gũi với ca giao. Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách, tâm hồn của người Á Đông. Vì vậy thơ Nguyễn Bính sớm đi sâu vào tâm hồn của nhiều lớp người và đã chiếm lĩnh được cảm tình của đông đảo bạn đọc từ thành thị đến nông thôn. Đặc biệt là lớp người bình dân, họ thuộc lòng , ngâm nga nhiều nhất. Vì ngoài phần ngôn ngữ bình dân dễ hiểu, dễ thuộc còn một vấn đề khác khiến thơ ông trường tồn chính là tiếng nói trong thơ ông cũng là tiếng nói của trái tim nhân dân thời đó.

Trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây, Nguyễn Bính lại gắn bó và hấp thụ tinh hoa ca dao, dân ca, truyện thơ dân gian cả về nội dung lẫn hình thức. Bài thơ "Chân quê" chính là tuyên ngôn của thơ Nguyễn Bính.

Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Thơ ông biểu hiện cảnh quê, thắm được tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn. Người ta gặp trong thơ Nguyễn Bính những hình ảnh bình dị, thân quen: hàng cau, giàn trầu, rặng mùng tơi, cây bưởi, thôn Đoài, thôn Đông,.... Tâm sự của người con gái trongLỡ bước sang ngang của ông cũng là tâm sự của rất nhiều phụ nữ Việt Nam thời kỳ đó. Hình ảnh những cô thôn nữ trong trắng, những chàng trai quê chất phác luôn được Nguyễn Bính mô tả trong tình yêu lãng mạn nhưng đều dang dở, chua xót đã đi vào lòng độc giả nhiều thế hệ Việt Nam. Nguyễn Bính sử dụng rất nhuần nhuyễn thể thơ lục bát, vì vậy thơ ông càng dễ phổ cập.

Tính cách

§ Nhà thơ Hoàng Tấn, một người bạn thân của Nguyễn Bính nhớ lại trong Hồi ký: Nếu với thơ, Bính kỹ lưỡng đắn đo suy nghĩ có khi đến quên ăn quên ngủ vì một từ, viết nháp nhiều lần, sửa chữa kỹ lưỡng từng câu từng chữ, trước khi đưa in viết sạch sẽ rõ ràng nắn nót bao nhiêu, thì trong cuộc sống Bính bạt mạng buông thả bấy nhiêu. Tính thích khôi hài, giàu óc tưởng tượng, thông minh nhanh nhẹn, ứng phó mau lẹ như Án Anh, Bính thường hay châm chọc bạn bè. Cái mà Bính thù ghét nhất là những bài thơ dở, cũng như những người làm thơ không hay. Đưa cho Bính coi một bài thơ mà Bính cho là dở, thì lập tức không nể gì tác giả đang đứng trước mặt, dùng những lời lẽ cay độc để chê bai khiến tác giả đỏ mặt, nhiều khi tự ái phát khùng. Lại còn tính kiêu kỳ khinh bạc nữa. Ngay cả với những người cưu mang Bính, khi thất thố điều gì là Bính thẳng cánh mất mặn mất nhạt. Nhưng đặc biệt lạ lùng là sau một cuộc đấu khẩu nảy lửa gay gắt dẫn đến việc phải xa nhau, chỉ một thời gian sau gặp lại Bính lại vui vẻ niềm nở như không. Riêng về thơ, Bính tự cao tự đại quá quắt, chê thơ người này non, người kia dở, kể cả những thi sĩ có người còn nổi tiếng hơn cả Nguyễn Bính. Những câu thơ của ai được Bính khen hay (khuyên son), là một điều hãn hữu. Người mà Bính phục tài và "Nguyện suốt đời là người học trò nhỏ" là thi hào Nguyễn Du. Chẳng thế mà Truyện Kiều Bính thuộc làu và lấy làm sách gối đầu giường

§ Bà nguyễn Hồng Châu, người vợ đầu của Nguyễn Bính nói: Tôi hiểu anh Bính, anh ấy rất lãng mạn, lãng tử nhưng rất có lòng nhân, là người tốt, thương người và chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm.

§ Con gái nhà thơ bà Nguyễn Bính Hồng Cầu nói: Hồi nhỏ, tôi cũng giận ba tôi lắm. Nhưng lớn lên tìm hiểu, tôi vỡ lẽ, đời ba tôi bất hạnh nhiều. Nhiều vợ nhưng không ai hiểu ông. Và ông cứ phải đi tìm cái bóng hạnh phúc cho đến khi nhắm mắt xuôi tay vào đêm giao thừa năm 1966.

Qua đời

Hầu như ai cũng biết rằng nhà thơ Nguyễn Bính qua đời vào một ngày giáp Tết Bính Ngọ (1966), chính xác là ngày 29 Tết (tháng chạp này không có ngày 30). Tuy nhiên, kể về cái chết của ông thì mỗi người nói một kiểu, không thống nhất. Theo nhà văn Vũ Bão, người bạn thân thiết với Nguyễn Bính ở Ty Văn hóa Hà Nam và là người hỏi những người chứng kiến sự ra đi của Nguyễn Bính sớm nhất (mùng 4 tết) ông đã kể lại như sau:

Khi làm báo Hà Nam, tôi và Nguyễn Bính có một người bạn chung tên là Đỗ Văn Hứa, người thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Anh này làm nghề bốc thuốc Đông y nhưng cũng viết báo, làm thơ, lấy bút hiệu là Tân Thanh. Đặc biệt, anh rất yêu thích thơ Nguyễn Bính nên mỗi lần về Ty Văn hóa Hà Nam họp, Tân Thanh lại khẩn khoản mời Nguyễn Bính về nhà mình chơi. Được cái cô Sang - vợ Tân Thanh - là người rất mến khách, mỗi lần chúng tôi về nhà là cô tiếp đón niềm nở... Mùng 4 Tết tôi mới được nghỉ, đạp xe đi thăm đây đó... 10 giờ ngày mùng 4 Tết, tôi tới nhà Tân Thanh ở Mạc Hạ. Vừa nhìn thấy tôi dắt xe đạp vào trong sân, cô Sang đã nói ngay: “Bác Vũ ơi, bác Bính mất rồi!”. Tôi đứng sững lại: “Ai nói với cô?”. Cô Sang nói tiếp: “Tuần trước, bác ấy đạp xe về nhà em. Trời trở gió, vừa vào tới nhà, bác ấy đã bảo nhà em đưa bác đi bệnh viện. Thời may, bệnh viện huyện lại sơ tán ngay xã em. Bác ấy bị thổ ra máu. Nằm ở bệnh viện huyện 3 ngày, sức khỏe hơi đỡ, lại về nhà em lấy xe đạp tính về Đại Hoàng ăn tết với vợ con. Hôm ấy đã là 29 Tết rồi. Thấy bác còn mệt, chúng em sợ bác không đủ sức về tận Đại Hoàng nên cố giữ bác lại ăn Tết cùng chúng em... Sáng sớm 30, nhà em tính sang chỗ hàng xóm chia thịt lợn mang về cái đùi và một ít lòng, tiết canh để hai anh em ăn cơm. Bác Bính bảo nhà em cứ ở nhà ăn với bác bát cơm cái đã. Nể bác, nhà em ngồi nán lại ăn cơm. Bác Bính có thói quen ăn xong là đi rửa tay. Bác vắt khăn lên vai, lò dò bước xuống cầu ao. Bỗng chúng em nghe tiếng bác gọi “Tân Thanh!”. Nhà em chạy vội ra sân, thấy bác Bính đang gục xuống bên gốc mít, cạnh hố vôi. Nhà em xốc bác lên, tựa người bác vào ngực mình. Miệng bác đầy máu, bác thổ ra huyết. Nhà em chạy đi gọi anh Huê và anh Đáp, nhờ họ cáng bác lên bệnh viện gấp. Y sĩ khám cho bác ấy xong mới cho nhà em biết bác ấy mất rồi. Nhà em ra bưu điện huyện gọi điện báo tin cho bác Trúc Đường và Ty Văn hóa...

Điềm báo

Thường những bài thơ tuyệt mệnh cuối cùng, người ta hay tìm ra những "dấu hiệu" vĩnh biệt cõi đời và người ta cho là sái, là điềm gở chết.

Ví như Tản Đà, khi ông viết bài thơ xuân 1939, có câu: Tính trăm tuổi đời người ta có nửa. Tháng 6 năm ấy ông mất thọ đúng 50 tuổi, câu thơ thật sái.

Nguyễn Bính cũng vậy, trong cuốn Tuyển tập Nguyễn Bính, nhà văn Chu Văn kể: Cuối năm 1965, nhằm chuẩn bị cho kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du - người mà Nguyễn Bính vốn coi như “tổ sư” của mình trong lĩnh vực làm thơ (Nguyễn Bính chẳng phục nhà thơ nào, chỉ trừ... Nguyễn Du!), báo Xuân năm Bính Ngọ ra số đặc biệt với nhiều bài vở về Nguyễn Du (1966). Hôm duyệt bài báo Tết, Nguyễn Bính cười thật tươi, tay cầm một xấp giấy mỏng, khoe: “Chỉ trong một đêm, tôi đã viết được một bài tập Kiều, vịnh cụ Tiên Điền”. Nguyễn Bính không cho ai xem mà chờ cho đến lúc đông đủ anh em mới trịnh trọng giở những trang giấy được viết thật công phu, chữ đẹp như xếp, rồi hắng giọng ngân nga: “Kính tặng cụ Nguyễn Du Truyện Kiều":

Cảo thơm lần giở trước đèn

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa

Trăm năm trong cõi người ta

Một thiên tuyệt bút gọi là để sau

Khen tài nhả ngọc phun châu

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình

Mấy lời ký chú đinh ninh

Rằng tài nên trọng, mà tình nên thương

Khen rằng giá đáng Thịnh Đường

Thì treo giải nhất, chi nhường cho ai

Gẫm âu người ấy, báu này

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

Nặng vì chút nghĩa xưa sau

Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay

Thương vui bởi tại lòng này

Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời

Lòng thơ lai láng bồi hồi

Tưởng người nên lại thấy người về đây...

Cả hội đồng duyệt bài số báo Tết hôm ấy, cùng lặng đi. Một bài tập Kiều thật hay. Nhưng nghe ra... đây tuy đề là tặng cụ Tiên Điền mà sao cứ như tâm sự của Nguyễn Bính, tổng kết cái cuộc đời thơ tài hoa long đong lận đận về ... Những câu sau cùng, sao mà nó sái quá. Một lời là một vận vào khó nghe. Nguyễn Bính cười trừ: "Các ông mê tín! Cứ hay là được rồi. Tôi xin nộp bài này. Một câu một chữ không sửa!"...

... Mùng sáu tháng giêng ta, tôi lên Hội Nhà văn thông báo về việc anh Bính mất. Gặp Tô Hoài, cũng ngậm ngùi nói chuyện về người bạn mới mất. Sau đó, tôi tìm đến nhà Trần Lê Văn. Nghe tin Bính mất, Trần Lê Văn tròn xoe mắt kinh ngạc: "Bính chết thật ư? Bao giờ?". "Ba mươi Tết, trước giao thừa". Trần Lê Văn bỗng xịu mặt, đấm vào đùi bình bịch: "Biết mà! Biết mà! Chết trước mồng một, đã lường thấy từ bao giờ". Tôi gặng hỏi: "Sao anh lại nói vậy?". Trần Lê Văn nói như gắt: "Ô kìa! Năm mới tháng giêng mồng một Tết. Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân",[7] rồi "... Giờ đây chín vạn bông hoa nở/Riêng có tình ta khép lại thôi".[8] Nó để mùa xuân nguyên vẹn cho người. Nó đi mà". Tôi sực nhớ bài tập Kiều Lời lời lệ sa máu rỏ đăng trân trọng trong số báo Tết. Ôi, thương quá! Chẳng lẽ trong thơ có quỷ, có ma thật chăng?!...

Gia đình

]Anh em

Cùng Bố cùng mẹ (bà Bùi Thị Miện)

§ Anh trai: Nguyễn Mạnh Phác

§ Anh trai: Nguyễn Ngọc Thụ

Khác mẹ (bà Phạm thị Duyên)

§ Em trai: Nguyễn Văn Căn

§ Em trai:Nguyễn Văn Cơ

§ Em gái: Nguyễn Thị Tuyết

§ Em gái: Nguyễn Thị Nhự

Đọc thêm!

Thursday, September 2, 2010

Người Việt chưa dám có tư tưởng đua tranh"

Bài đã được xuất bản.: 25/06/2009 00:38 GMT+7

(TuanVietNam) - Đặng Lê Nguyên Vũ là một cái tên quáquen trong giới doanh nhân, và xét vềmột khía cạnh nào đó anh còn là "người của công chúng".Sau một thời gian "đi vắng", anh vừa trở lại vớiđầyắp cácý tưởng mới táo bạo....


Từng "bỏ bê" kinh doanh

- Lâu nay, ít nghe thông tin về anh so với những năm trước kia. Thậm chí có lúc chúng tôi còn nhận được những thông tin đại loại như: Đặng Lê Nguyên Vũ đang “chìm dần” hay ông ấy đang làm ăn thua lỗ...?

Nhiều tin đồn thất thiệt lắm nhưng tôi không quá quan tâm. Tôi chỉ biết rằng cần có nội lực trong cá nhân mỗi con người đủ mạnh để bỏ qua những luồng dư luận không đáng tin cậy. Nhiều lời đồn đoán, với những ý đồ khác nhau, kể cả những thứ bậy bạ... không ảnh hưởng nhiều đến tôi.

Tổng Giám đốc Đặng Lê Nguyên Vũ (Ảnh: G.P)


Còn nhớ, khi khủng hoảng kinh tế bắt đầu diễn ra, lúc đó tôi rất phiền muộn vì qua mấy năm, tôi có nêu ra một số vấn đề cho sự phát triển chung, nhưng không phải ai cũng lắng nghe cả. Tôi lên trang trại của mình ở M"drăk nghỉ ngơi. Lúc đó tôi tắt tất cả điện thoại, chỉ giữ kênh kết nối với thư ký để liên lạc công ty.

Dưới này người ta bảo Trung Nguyên phá sản, thông tin “rò rỉ” ra là Đặng Lê Nguyên Vũ trốn đi đâu rồi (!). Có thư gửi đến Báo Sài Gòn Giải Phóng, Pháp luật TPHCM… rồi mấy người bạn của tôi phải tìm nháo nhào, chụp hình, chứng minh tôi đang có mặt ở VN (Cười).

Nói chung là Đặng Lê Nguyên Vũ càng ngày càng mạnh mẽ hơn thôi. Có khác chăng đôi khi lo lắng quá, nói nhiều vấn đề không thuộc phạm trù kiểm soát của mình, từ đó mà người ta nhìn qua ngó lại. Nói những vấn đề về quốc gia thì người ta lại chiếu vào doanh nghiệp của tôi mà đánh giá, bảo tôi "chính trị" này nọ, đủ thứ chuyện.

- Bây giờ, bất ngờ anh tung ra nhiều chương trình, dự án mới "đình đám", hẳn anh và Trung Nguyên đang có những mục tiêu, kế hoạch rất cụ thể?

- Nếu kinh doanh tốt thì doanh số sẽ tăng gấp đôi trong năm nay. Đây là con số lớn, hàng ngàn tỷ đồng. Đến thời điểm giữa năm nay thì tôi có thể khẳng định không có gì là không đạt được.

Đầu tháng 6 vừa qua chúng tôi đã khánh thành nhà máy chế biến cà phê hiện đại nhất thế giới với tổng đầu tư trên 40 triệu USD. Trung Nguyên đã lập quỹ hỗ trợ nông dân trồng và phát triển cây cà phê bền vững. Tại Hội quán Sáng tạo Trung Nguyên tại Hà Nội vừa diễn ra Lễ hội cà phê VN và Bộ Ngoại giao đã chọn nơi đây là "Không gian ngoại giao" VN, hưởng ứng năm Ngoại giao văn hóa.

(Đặng Lê Nguyên Vũ chỉ vào tập báo cáo "Dự án Thủ phủ cà phê của toàn cầu" và nói: "Đây là sản phẩm của 5 năm trời, được hình thành qua nhiều năm nghiên cứu, đóng góp qua nhiều cuộc Hội thảo trong nước ngoài nước, để giờ tôi cùng Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc đem ra trình các nhà lãnh đạo ở cấp cao nhất").

Thủ phủ cà phê toàn cầu được thực hiện trên khu vực có diện tích 2000 - 3000ha của cao nguyên M"Drăk, ở độ cao 400 - 500m.

Định vị phát triển là các làng sinh thái cà phê.

Hình mẫu được kết hợp với sản xuất nông nghiệp xanh và sạch; du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp; văn hóa, nghệ thuật và tinh thần; sản xuất và chế biến sản vật đặc trưng; Phát triển cộng đồng...

- Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn chìm trong suy thoái, những dự án và mục tiêu anh đề ra là khá táo bạo đấy...?

Dù tình hình chung thế nào thì đây cũng là giai đoạn Trung Nguyên cần có sự điều chỉnh. Tôi là người có nhiều suy nghĩ khác hơn là chuyện kinh doanh. Có một quãng thời gian khá dài, khoảng 5 năm, tôi đã " bỏ bê", không tham gia nhiều với công ty.

- Xem ra quãng thời gian Đặng Lê Nguyên Vũ đi "ở ẩn" là chiến lược làm ăn của Trung Nguyên?

Không đâu. Thực sự là tôi không có máu kinh doanh lắm; chỉ là tôi biết mình có thể làm tốt công việc này, còn nhiều người khác có thể học hành cấp hàm này nọ chưa chắc đã làm tốt. Trong những năm “bỏ bê” đó, tôi ưu tư điều khác, đó là suy nghĩ, trăn trở về việc làm sao cho đất nước này hùng mạnh.

- Nhưng việc đó có thể làm tốt với con đường kinh doanh đấy chứ?

Mỗi người có năng lực riêng. Nếu có phương pháp khai thác đúng thì sức bật của cả động đồng dân tộc sẽ lớn hơn là cộng đồng kinh doanh mấy ngàn người.

- Hình như làm doanh nhân thành đạt chưa phải là lựa chọn cuối cùng của anh…?

(Cười to). Vấn đề không phải kinh doanh có phải là lựa chọn của tôi hay không mà là khi tôi đã bắt tay vào kinh doanh thì việc mình kinh doanh thế nào, với mục tiêu là sẽ tạo động lực gì cho xã hội phát triển chứ không phải mục tiêu chính trị.

Cái đó cũng khác nhau giữa tôi với những người khác. Trong tôi, xu hướng xã hội, xu hướng cộng đồng có lẽ mạnh hơn, chứ không phải vấn đề chính trị. Bạn có thể hỏi nhiều cộng sự của tôi, nếu anh em không lôi tôi lại thì xu hướng đó ngày càng mạnh hơn, sự thúc giục tôi từ bên ngoài sẽ nhiều hơn là đi vào các con số.

Có những cái "neo" khiến dân tộc không bung ra được

- Những việc anh đã làm, những điều anh đã nói ra có thể cho thấy anh đang muốn làm một cái gì đó có vẻ to tát hơn là thành công trong kinh doanh?

Muốn làm gì thì tôi nghĩ thế này, đó là làm sao đất nước này hùng mạnh có thể thi thố với thiên hạ được. Phải tìm nguyên nhân từ đâu mà đất nước này có rất nhiều điều kiện để mạnh hơn mà sao mãi vẫn như vậy hoài? Nhiều người đã đưa ra nhiều nguyên nhân, nhưng đâu là bản chất thì còn tản mạn.

Các em anh có tầm tri thức lớn, có thể đưa ra được những quan điểm, những ý kiến… để hiến kế, để thúc đẩy, để làm gì đó. Còn tôi, là người từng khơi ra cuộc vấn lại dân tộc mình nhỏ hay lớn trên báo Thanh Niên, về nâng tầm thương hiệu Việt, xây dựng thương hiệu cho hàng nông sản... tất cả là để cùng nhiều nhóm tri thức khác nhau trong xã hội thúc đẩy những động lực cần thiết, để làm sao đưa ra những quan điểm có tác động nhiều chiều hơn, sâu hơn đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước, kể cả về vấn đề chính sách.

- Dành nhiều thời gian cho vấn đề lớn lao đó, giờ anh đã có câu trả lời chưa?

Đương nhiên. Ít nhất tôi cũng thấy được đâu là dân tộc yếu, vì sao yếu, cái gì làm cho nó yếu? Có người đổ thừa cho thể chế. Cái đó không phải. Phải nhìn dài hơn mấy chục năm, đó là hàng ngàn năm của dân tộc.

Theo tôi, đó là văn hóa, nhân sinh quan của người Việt hiện nay có nhiều cái không phù hợp, cần được đánh giá lại. Nó là những cái “neo” chắc chắn kìm dân tộc, không cho mình bung ra được.

Người ta vẫn nói là cần giữ gìn “bản sắc dân tộc”, nhưng là bản sắc nào, cái gì là bản sắc thì phải phân biệt được đâu là bản sắc thực sự của người Việt chứ không phải chỉ là chuyện áo xống, mũ mão từ thời phong kiến. Nhiều khi chúng ta nhầm lẫn, phải làm rõ. Người VN, nhất là thế hệ trẻ cần xác định được vấn đề nào là cái “neo” cần phải bỏ, cái gì là bản sắc thực sự cần giữ gìn, giá trị nào là của người Việt thực sự cần tôn tạo.

- Có vẻ hơi trừu tượng! Anh hãy mô tả rõ hơn một chút để các nhà hoạch định chính sách và những người trẻ dễ hình dung hơn?

Cái này thì đòi hỏi cả công trình nghiên cứu. Còn nói ngắn gọn, quan điểm của tôi thì có nhiều cái “neo” lắm. Đó là sự đố kị, an phận thủ thường, tự hài lòng… đầy rẫy. Ai cũng coi mình là số một của cái làng, của cái huyện, của quốc gia này. Âm nhạc tôi là số một, hội họa tôi là số một, văn chương số một, tôi là nhà kinh doanh số một. Như tôi đây, cũng là số một, nhưng tôi là ai so với thế giới ngoài kia? Anh phải đua với thế giới chứ!

Để khẳng định mình thì phải có những cái ban đầu để đem ra thi thố: Anh có tác phẩm gì không? Thành tựu của anh là gì? Tổng thu nhập của đất nước 85 triệu người một năm không bằng tập đoàn hạng trung của thế giới, trong khi chúng ta có bao nhiêu tài nguyên, đó là điều chúng ta phải nghĩ chứ...

Đành rằng chúng ta đã làm được một số việc, nhưng cái đích của chúng ta còn xa. Dân tộc VN này phải thi thố với thế giới chứ. Cứ ngồi tự ru ngủ, khác nào một thằng chột giữa đám mù, hoặc giữa làng nghèo khổ anh có cái xe đạp, xe máy, trong khi đó người ta đã đi máy bay, chuyên cơ rồi.

Suy cho cùng phải có khát vọng. Giới trẻ phải có khát vọng lớn, phải thi thố, đua tranh. Đó là cái thiếu nhất, phải cổ động cái này, đưa vào giáo dục. Giáo dục là giáo dục động lực, giáo dục phương pháp.

Người VN khi đi thi có thua ai, trí tuệ thua ai, tại sao mình không “lớn” được thì có phải mình thiếu khát vọng không? Khi ta thoả mãn, hài lòng thì nên nhìn lại.

- Và Đặng Lê Nguyên Vũ sẽ trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học hay chính trị gia... chứ không chỉ là doanh nhân thành đạt?

(Cười)… Trăn trở của tôi là đất nước này làm sao có vị thế, để hình ảnh của người Việt, giá trị của người Việt được thừa nhận. Tôi muốn là muốn cái đó.

Tôi chứng kiến nhiều người khi nói đến người Nhật, người Hàn Quốc hay người Mỹ thì cứ phải tôn sùng họ. Họ có phải là thần thánh không? Không, họ cũng là người, họ làm được sao mình không làm được. Chúng ta có dám đua tranh, thi thố với họ không?

Tôi cũng là một bi kịch hiện nay. Khi tôi phát động cả một cuộc đua trong Trung Nguyên, tôi nói tôi sẽ cạnh tranh với những người hàng đầu, nhưng xung quanh tôi, những người Việt hiện nay, dù được học hành khắp nơi, xin lỗi, vẫn chưa dám có tư tưởng vậy. Chưa dám thì sao mà biết cách.

Còn tất nhiên, việc đi đến đích thì còn xa lắm, còn nhiều điều kiện xung quanh, nhưng dám rồi mới nghĩ, chứ không thể thua ngay từ trong não: à không được đâu, nó có cái này, nó có cái kia, nó đi trước đủ thứ, mình theo sao được…

Tôi nghĩ đây không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Một dân tộc phải được dẫn dắt bởi giới tinh hoa, trong đó vai trò lớn nhất là vai trò của nhà chính trị, sau đó là vai trò của các nhà khoa học, trí thức và giới doanh nhân thực sự. Nếu khát vọng này, cả giới tinh hoa này bắt đầu dẫn đạo thì cả dân tộc sẽ theo.

Không thể nói anh doanh nhân, anh không có trách nhiệm. Bạn sẽ thấy tập đoàn Deawoo, Huyndai… ở Hàn Quốc, họ có vai trò rất lớn. Hay nhìn sang Nhật Bản, tập đoàn Sony, Misubishi…, họ làm mọi thứ đâu phải chỉ là kinh doanh cho riêng họ.

Một doanh nhân đúng, nhà sản xuất đúng cũng thường là một nhà tư tưởng, một nhà hoạch định. Anh không hiểu về người tiêu dùng thì sao hoạch định được. Nếu không có tư tưởng, không có động lực vì quốc gia dân tộc thì sao có động lực để tranh đấu.

Riêng tôi thì không bao giờ hài lòng với chính mình, không bao giờ hài lòng với những gì tôi đã đạt được. Tôi ít khi nhìn lại quá khứ - đương nhiên phải tổng kết, đánh giá - nhưng không phải chỉ để tự thỏa mãn, hài lòng.

"Tôi theo đuổi phát triển bền vững"


"Tôi ủng hộ phát triển theo con đường bằng quyền lược mềm..."

- Hiện anh quan tâm đến điều gì nhất của tình hình đất nước hiện nay?

Nhìn hết đại cục thì tôi nghĩ rằng các cấp lãnh đạo ở cấp vĩ mô cần có quan điểm, cái nhìn về phát triển một cách rõ ràng. Ở đây là phải có triết lý, chủ thuyết phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Điều kiện hiện nay đã khác đòi hỏi chúng ta phải nhận diện, đánh giá lại toàn bộ, từ nguồn lực đến mô hình, đánh giá được thế giới vận hành thế nào, nhận diện được tất cả những gì chi phối đất nước VN, cơ hội thế nào và nguy cơ ra sao. Điểm hướng đến là định ra con đường phát triển tốt đẹp nhất cho VN. Khi xác định được con đường phát triển rồi thì chúng ta hoạch định từng vấn đề một.

Trong suốt quá trình vận động lịch sử, thế giới có sự chi phối bởi hai quyền lực: quyền lực cứng và quyền lực mềm. Quyền lực cứng thì thường là quốc gia này ảnh hướng đến quốc gia khác, trước thì chủ yếu là quân sự, sau đó là áp đặt các vấn đề về kinh tế, một số thì bằng các học thuyết, quan điểm khác nhau trong đủ mọi lĩnh vực sinh học, xã hội, tôn giáo …

Bây giờ mình nhìn cục diện đó, trong bối cảnh quốc tế này thì VN nắm lấy và xây dựng quyền lực nào. Về quân sự thì chúng ta có thế mạnh ở đâu trên đất liền, trên không, trên biển cả? Chúng ta có nên đi theo con đường đó?.

Quyền lực mềm thì bây giờ phải tính toán thế nào. Tôi ủng hộ phát triển theo con đường bằng quyền lược mềm, cần xem lại và đánh giá ở ba trụ cột. Thứ nhất là động lực, nhân lực cho sự phát triển đất nước. Thứ hai là hệ giá trị quốc gia, những giá trị cốt lõi. Thứ ba là các chính sách quốc gia, đối nội cũng như đối ngoại, để làm sao có thể hấp thụ toàn bộ nguồn lực thế giới về cho VN, để có thể xây dựng, tôn tạo và cùng bảo vệ VN.

Làm được không? Được. Phải có chủ thuyết chứ, có quan điểm. Trong vấn đề này chúng ta cần hoạch định để rõ ràng hơn. Chúng ta đầu tư vào những vấn đề nào, có trọng tâm, chứ không phải nay chúng ta làm cái này, mai chúng ta làm cái khác.

- Xem ra quan điểm, triết lý của anh hơi khác so với một số mục tiêu mà chúng ta đặt ra hiện nay. Đang có những đại dự án được Chính phủ đặt vào khu vực Tây Nguyên. Theo anh, hiệu quả kinh tế của việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên như thế có thể so với hiệu quả kinh tế từ khai thác và xuất khẩu cà phê như anh làm?

Vấn đề không phải nhìn cà phê hay nhìn tài nguyên thiên nhiên mà là nhìn vấn đề rộng hơn theo toàn cục. Phải có một mô hình phát triển bền vững cho vùng này, để có một mô hình phát triển có lợi ích cho toàn đất nước chứ không hẳn chỉ riêng một khu vực nào. Cái đó rất quan trọng.

Trong tiến trình phát triển chúng ta phải có tăng trưởng kinh tế. Nhưng về mặt xã hội phải thế nào, môi trường. làm sao cho tốt... phải cân đối được. Nói chung là cần quan tâm đến mọi khía cạnh của sự phát triển, chứ không chỉ nhìn ở một vài chỉ số nào đó. Đó là mấu chốt hóa giải cho tất cả.

Hiện nay tài nguyên trí tuệ của ta vẫn còn bị bỏ trống, nếu ta biết quy hoạch đúng thì đây là tài nguyên lớn nhất của VN, ở trong cũng như ngoài nước, và đó là điều mà chúng ta cần phải xoáy vào.

Tại sao cà phê của chúng ta cho nguồn thu 1,8 tỷ USD mà không phải 18 tỷ, trong khi Nestle không trồng hạt cà phê nào thì thu về 12 tỷ? Còn dầu mỏ bán mỗi năm hơn hơn đó chút thôi? Còn nhiều cái " mỏ" khác, nếu chúng ta biết đến, đủ vốn tri thức để khai thác thì chúng ta dư sức thực hiện được nhiều mục tiêu trong bối cảnh này.

Đặng Lê Nguyên Vũ tại Nhà dài, nơi được coi là Bảo tàng về văn hóa Tây Nguyên, thuộc Làng cà phê Trung Nguyên, Buôn Mê Thuột

"Nhiều năm trước tôi cố gắng thúc đẩy bản thân, doanh nghiệp của mình làm được gì cho đất nước thì bây giờ tôi vẫn làm. Trong quá trình hội nhập này, tôi vẫn làm một cách quyết liệt không kể ngày đêm. Đó là lời khẳng định, đó là lẽ sống, là con đường đi của tôi.

Ở đây có một cái lớn lao hơn. Khi tôi quay trở lại và bàn thảo với một số nhà tri thức hàng đầu và một số nhà lãnh đạo của đất nước thì phát hiện ra cà phê là một thứ quyền lực của VN. Đây là quyền lực mềm. Cà phê VN có thể chi phối toàn thế giới nếu chúng ta biết cách làm.

Một ngày, trên thế giới có 2 tỷ tín đồ cà phê, đủ mọi lứa tuổi, thành phần, dân tộc, hệ chính trị… họ chưa có giáo lý. VN nên tranh thủ cơ hội này, kết nối, tạo nên giáo lý riêng, triết lý mới về cà phê dựa trên nền tảng mình đang có...

Tạo ra một vùng đất mà tôi gọi là “Thủ phủ” hay “Thánh địa” cà phê toàn cầu đó là điều chúng tôi đang thực hiện. Đó là một vùng đất để 2 tỷ con người, là "tín đồ" của cà phê, có thể hướng về. Quan trọng là nội hàm này làm sao để hấp dẫn.

Tôi đang cố gắng đem giá trị của VN, giá trị đóng gói của VN, tinh thần của người VN và chắt lọc tất cả những mong đợi của mọi người trong thế giới hiện nay, trong thời đại khủng khoảng về sắc tộc, tôn giáo, môi sinh, môi trường, khó hậu… này.

Tinh thần cà phê của VN phải kêu gọi cái gì? Đó là sự sáng tạo, phải sáng tạo cho một thế này hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Bộ Ngoại giao đã cùng với chúng tôi chia sẻ điều đó".

· Bùi Dũng (thực hiện)

Đọc thêm!

Đặng Lê Nguyên Vũ _ gương doanh nhân việt

Chứng kiến cảnh cha bị bệnh nặng, chỉ cần 2 triệu đồng chữa trị mà vay mượn cả đại gia đình cũng không đủ, cậu con trai 16 tuổi - Đặng Lê Nguyên Vũ đã thề với lòng: “Một ngày nào đó mình sẽ thay đổi cuộc sống của cả đại gia đình này!”.

Những năm 1990, thầy cô và các sinh viên Trường Đại học Tây Nguyên không ai không biết đến Đặng Lê Nguyên Vũ, chàng sinh viên khoa Y với nhiều ước mơ và hoài bão vượt ra phạm vi đất nước. Nhận ra ngành Y không thể đáp ứng được ước mơ và tham vọng của mình, năm thứ ba đại học, anh quyết định nghỉ học và đón xe vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm kiếm cơ hội. Ra đi với hành trang duy nhất là tên và địa chỉ của một người chú chưa từng biết mặt, anh tự hứa sẽ không trở về nhà cho đến khi sự nghiệp vững vàng.

Nhận được nhiều lời khuyên chân thành và bổ ích từ người chú, Đặng Lê Nguyên Vũ đồng ý trở lại trường vài ngày sau đó. Tuy vậy, trong anh vẫn luôn nung nấu ý tưởng kinh doanh. Là nước xuất khẩu cà phê thứ 2 thế giới nhưng hình ảnh cà phê của Việt Nam không hề được biết đến. Cà phê Buôn Ma Thuột là một trong những loại ngon nhất thế giới nhưng thực tế có được công nhận? Nhận thức như vậy, Đặng Lê Nguyên Vũ quyết định nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi. Anh muốn chế biến ra loại cà phê ngon nhất và xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Tham vọng lớn lao ấy thôi thúc chàng sinh viên Y đến cháy bỏng. Trình bày suy nghĩ với bạn bè để tìm sự chia sẻ, nhưng anh chỉ nhận được sự giễu cợt và cho là “thằng điên hạng nặng” với những ý tưởng vượt xa tầm với. Cả trường đại học chỉ vài ba người là chịu nói chuyện với anh.

Tuy nhiên, Đặng Lê Nguyên Vũ vẫn tìm được ba người cộng sự học cùng lớp có chung bầu nhiệt huyết, nhưng họ hứa chỉ giúp anh trong chặng khởi đầu chứ không theo con đường kinh doanh đó. Không ngần ngại, Đặng Lê Nguyên Vũ bắt tay thực hiện ý tưởng của mình. Anh cùng các bạn tranh thủ ngày chủ nhật, lặn lội tìm đến các thương gia cà phê nổi tiếng ở khắp các tỉnh thành năn nỉ, thuyết phục họ truyền nghề. Cứ vậy, anh tích lũy được vốn kiến thức sâu rộng về cà phê.

Những khó khăn thử thách

“Gã hoang tưởng” Đặng Lê Nguyên Vũ mà nhiều người đã gọi anh 4 năm về trước giờ đã là một doanh nhân trên trương trường với vị thế rất nhiều người mơ ước. Ước mơ cải thiện cuộc sống cho cả đại gia đình của cậu học sinh ngày xưa giờ đã thành hiện thực. Hoài bão lớn lao, vượt xa tầm vi mô của anh năm xưa cũng bắt đầu được thực hiện, đó chính là ước mơ được bay khắp thế giới, bay trên bầu trời và “bay” trong cả thương giới.

Năm 2002, nhận thấy đã đến lúc Trung Nguyên phải ra khỏi Việt Nam, bên cạnh việc tìm kiếm thị trường, Đặng Lê Nguyên Vũ đầu tư 3 triệu USD để hoàn chỉnh hệ thống bảng hiệu, khẳng định giá trị của thương hiệu bằng cách thuê luôn một hãng tư vấn đặt tại New Zealand, đồng thời để hoạt động kinh doanh nhượng quyền được chuyên nghiệp, nhất quán hơn và đảm bảo tính đồng nhất của thương hiệu. Trong năm 2002, quán Cà phê Trung Nguyên đầu tiên xuất hiện ở Tokyo. “Đây là một bước rất quan trọng. Nếu chúng tôi thành công ở Tokyo thì điều đó sẽ làm tăng tốc kế hoạch bành trướng của Trung Nguyên ra nước ngoài”.

Trên thực tế, bên cạnh những khó khăn về mặt bằng, tài chính, hình ảnh thì khó khăn lớn nhất mà Đặng Lê Nguyên Vũ phải đương đầu là Goliath cà phê Starbucks, một tập đoàn cà phê lớn nhất thế giới của Mỹ. Sự thành công của Trung Nguyên ở thị trường nội địa cũng giống như Starbucks ở Mỹ, ngoại trừ việc Trung Nguyên thống trị thị trường nội địa của mình chỉ trong 4 năm, trong khi Starbucks phải mất đến 15 năm. Tại Nhật, Starbucks đã có đến gần 400 cửa hàng trong tổng số hơn 6000 cửa hàng của nó trên khắp thế giới. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là đại lý nhượng quyền Trung Nguyên tại Nhật Bản lại ấn định giá mỗi tách cà phê Trung Nguyên cao hơn 50% so với Starbucks và cao hơn 25% so với các cà phê nội địa khác.

“Chúng tôi coi Tập đoàn Starbucks là một đối thủ đầy tiềm năng, nhưng chúng tôi không sợ phải đối mặt với họ. Chúng tôi tập trung làm cho Trung Nguyên trở thành một điển hình của Việt Nam trên thế giới, phản ánh được nền văn hóa của đất nước qua cách thiết kế và cung cách phục vụ” - anh nói.

Con đường dẫn tới thành công

Thành công của Trung Nguyên ở Nhật Bản đã thực sự giúp nó nhảy vọt. Đến nay, thương hiệu Trung Nguyên đã có mặt ở Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc và Cộng hòa Séc. Cà phê rang Trung Nguyên cũng có mặt trong siêu thị và các cửa tiệm ở Mỹ, Đức, Đông Âu, Pháp và Nga. Hiện Đặng Lê Nguyên Vũ đang triển khai các hợp đồng nhằm tìm kiếm thị phần cho Cà phê Trung Nguyên tại 15 nước như Đức, Úc, Canada, Đài Loan, Malaysia, Philippin…

Không chỉ tấn công thị trường quốc tế với mặt hàng cà phê rang, Đặng Lê Nguyên Vũ thực sự gây kinh ngạc cho các nhà doanh nghiệp khi anh cho tung ra sản phẩm cà phê hòa tan mang tên G7 vào tháng 11-2003 vừa qua. Tên gọi cà phê hòa tan G7 trong ý tưởng của anh là một cái tên dễ tiếp cận quốc tế nhưng không mang tính vọng ngoại mà mang sứ mạng chinh phục, chiếm lĩnh thị trường 7 nước phát triển. G7 chính thức đối đầu với các đại gia nước ngoài về cà phê hòa tan bằng “Ngày hội cà phê hòa tan G7” tại Dinh Thống Nhất. Cuộc thử sản phẩm đem đến kết quả khá thú vị: 89% người tham gia chọn cà phê hòa tan G7 là sản phẩm yêu thích, và chỉ có 11% chọn nhãn hiệu cà phê hòa tan Nescafe. Đây thật sự là một cuộc chiến, nhưng điều quan trọng hơn của Trung Nguyên không phải là kết quả cuộc thử mà là sự khơi dậy về ý chí quật cường, về lòng tự hào dân tộc khi chọn lựa và tiêu dùng sản phẩm thương hiệu Việt. “Tại sao lại không thắng những kẻ mạnh hơn ngay trên quê hương mình?”. Mục tiêu của anh là không chỉ chiếm lĩnh thị phần mà còn đánh bại các “đại gia” nước ngoài tại Việt Nam trước khi ra thế giới.

Quả thực chỉ mới ra mắt hơn 8 tháng nhưng sản phẩm G7 đã gây rất nhiều khó khăn cho các đối thủ. Giấc mơ theo đuổi toàn cầu của Đặng Lê Nguyên Vũ chỉ mới đang ở những bước đầu. “Tôi muốn có thương hiệu Trung Nguyên của Việt Nam nổi tiếng trên thế giới. Cà phê của chúng tôi ngon. Không có lý do gì chúng tôi không thể làm được điều đó” - thương gia trẻ này tuyên bố.

Kinh nghiệm kinh doanh

Đi nhiều, thấy nhiều mọi điều trên thế giới, Đặng Lê Nguyên Vũ cảm thấy tủi nhục trước cảnh hàng hóa Việt Nam bị coi thường. Nói đến Toyota, Sony, Hitachi người ta nghĩ ngay đến nước Nhật; nói IBM, Intel, Ford là biết Mỹ; Mercedes là nói đến Đức… Hình ảnh thương hiệu hàng hóa từ lúc nào đã trở thành hình ảnh đối thoại của một quốc gia. Không có thương hiệu, làm sao Việt Nam có thể hội nhập và đối thoại với thế giới? Vì vậy, anh quyết tâm đi tiên phong, xây dựng thành công thương hiệu Trung Nguyên trên trường quốc tế.

Việt Nam có rất nhiều mặt hàng được thế giới ưa chuộng, nhưng tại sao không có sản phẩm nào có thương hiệu? Đặng Lê Nguyên Vũ thấy nếu cứ cảnh “hồ tiêu trộn hạt đu đủ” xuất khẩu ra nước ngoài như đã thấy thì Việt Nam sẽ không thể có được hình ảnh tốt với quốc tế. Bởi giá trị cốt lõi của thương hiệu thực ra chính là uy tín. Anh quan niệm, hàng hóa phải là hình ảnh con người, là nét văn hóa của quốc gia chứ không chỉ đơn thuần là hàng hóa để bán.

Ngay từ đầu khi chọn logo cho Trung Nguyên, Đặng Lê Nguyên Vũ đã thể hiện hoài bão của mình: logo mũi tên là hình ảnh cách điệu của nhà rông Tây Nguyên - nơi khơi nguồn của cà phê Trung Nguyên, hình mũi tên hướng thẳng lên trời thể hiện ý chí chinh phục đỉnh cao, khát vọng vươn lên, phát triển vượt bậc. Ba vạch trắng trên logo là hình ảnh cách điệu của lối lên nhà sàn, thể hiện văn hóa của công ty luôn muốn duy trì bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết, là cam kết an toàn vệ sinh thực phẩm. Mỗi vạch trắng tượng trưng cho một yếu tố thiên, địa, nhân… Bảng hiệu của Trung Nguyên với sắc nâu là chính vì đó là màu của đất, của cà phê, của cội nguồn dân tộc. Tất cả đó là thương hiệu Trung Nguyên đậm chất văn hóa truyền thống Việt trên thương trường quốc tế.

Với những ý tưởng đó, anh muốn Trung Nguyên phải là nơi cung cấp những giá trị văn hóa, là môi trường “khơi nguồn sáng tạo”, nơi hướng con người đến những điều tích cực chứ không chỉ là nơi bán cà phê. Xây dựng hình ảnh Trung Nguyên mang đậm nét văn hóa dân tộc, từ ly tách, bàn ghế, màu sắc bảng hiệu đến đồng phục, cung cách phục vụ của nhân viên,… Đặng Lê Nguyên Vũ muốn rằng, khi Trung Nguyên đến quốc gia nào thì người dân bản địa ở đó có được cảm giác như đang nghỉ ngơi từ 10 - 15 phút trong một Việt Nam thu nhỏ, trước khi vào đất nước Việt Nam thật sự.

Đặng Lê Nguyên Vũ quan niệm: “Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta cần ý thức được giới hạn của cuộc sống để lựa chọn một lối sống. Theo tôi, có hai cách sống: một là sống theo ý mình, sống hưởng thụ; hai là sống có trách nhiệm. Tôi đã chọn cách thứ hai”. Anh là một trong những người đứng ra khởi xướng chương trình “Sáng tạo vì thương hiệu Việt” vào năm 2002, với mục đích kêu gọi doanh nghiệp ý thức xây dựng về thương hiệu Việt, kêu gọi người tiêu dùng ủng hộ chọn lựa hàng hóa Việt. Tiếp đến năm 2003, anh lại phát động chương trình “Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam”. Nếu như chương trình trên là bước khởi đầu đánh động vào ý thức tiêu dùng hàng hóa Việt, thì chương trình tiếp theo là một bước cụ thể hơn về thương hiệu cho ngành nông sản vốn là thế mạnh của Việt Nam.

Với các loại nông sản tiềm năng như gạo, hồ tiêu, cà phê, hạt điều, trái cây… nhưng Việt Nam luôn tồn tại một nghịch lý là càng được mùa thì sản phẩm nông nghiệp càng bị mất giá, người nông dân luôn luẩn quẩn với bài toán về đầu ra cho sản phẩm. Đặng Lê Nguyên Vũ muốn nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm nông sản Việt Nam tự tin vươn ra thị trường thế giới. Theo anh, xây dựng thương hiệu gắn với các địa danh, vị trí địa lý của từng vùng là một cách tốt nhất để vẽ bản đồ nông sản Việt Nam trên thế giới, góp thay đổi bộ mặt kinh tế của nước nhà.

“Nỗi nhục tụt hậu, thua kém không của riêng ai. Hơn nữa, trong thời đại này thì doanh nhân là chiến sĩ thời bình. Tôi muốn mình là một chiến sĩ thực thụ, chiến đấu trên thương trường vì thương hiệu Việt” - Đặng Lê Nguyên Vũ khẳng khái.

Có lẽ chính lý tưởng và ý chí mãnh liệt đó là yếu tố chính đã giúp anh thắng kiện Công ty Rice Field trong vụ tranh chấp quyền bảo hộ thương hiệu Cà phê Trung Nguyên kéo dài hơn 2 năm tại Mỹ. Việc một doanh nghiệp của Việt Nam có thể thắng kiện một công ty lớn của một quốc gia bá chủ về kinh tế là Mỹ ngay trên nước họ là một điều không tưởng! Nhưng Đặng Lê Nguyên Vũ đã buộc cả thế giới phải thay đổi suy nghĩ đó.

Người biết ước mơ

Hiện nay, Đặng Lê Nguyên Vũ không tiếp tục phát triển Trung Nguyên theo chiều rộng mà anh đang đầu tư chiều sâu cho các cơ sở nội địa để hoàn thiện hình ảnh, củng cố công cuộc kinh doanh, bảo vệ nó khỏi những đối thủ cạnh tranh mới. Anh không ngừng điều chỉnh hình ảnh thương hiệu, sản phẩm và cơ cấu tổ chức của Trung Nguyên để thích nghi với những thị trường mới mà anh dự định sẽ thâm nhập, nhưng vẫn giữ được nét văn hóa dân tộc. Anh không chỉ hăng say lao vào công việc vì sự lớn mạnh của Trung Nguyên mà còn vì thương hiệu Việt, vì nhiều vấn đề của ngành nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.

“Thế giới đã từng biết đến rượu vang Pháp, cà phê Columbia, sữa tươi Hoa Kỳ… Chúng ta cũng có quyền mơ một giấc mơ rằng cả thế giới phải biết đến cà phê Buôn Ma Thuột, thanh long Bình Thuận, vải thiều Thanh Hà, sầu riêng Cái Mơn… Ở Trung Nguyên, chúng tôi không chỉ tập hợp những người biết bán cà phê hay sản xuất cà phê mà là tập hợp của những con người tâm huyết, biết chia sẻ với cộng đồng, với mong ước tự tin ghi dấu ấn riêng của mình vào sự thay đổi của dân tộc, của đất nước” Đặng Lê Nguyên Vũ nói. Chính sự sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm cộng với một chữ tâm đầy nhiệt huyết đã làm nên thành công cho chúng tôi. Hơn bất kỳ một tập thể, cộng đồng nào, Trung Nguyên khao khát chia sẻ tính sáng tạo với tất cả mọi người.

Đặng Lê Nguyên Vũ bật mí: “Chiến lược phát triển công ty của chúng tôi có 5 bước. Hiện tại chúng tôi đang hoàn thiện bước thứ 2. Bước đầu tiên là hình thành gây dựng thương hiệu, hoàn chỉnh khâu phân phối. Bước thứ hai là đưa chất văn hóa và sự đồng nhất vào sản phẩm, và vì bí mật kinh doanh cho phép tôi không nói, chỉ biết, bước cuối cùng là một Trung Nguyên toàn cầu”.

Anh luôn trăn trở về thế hệ sau mình: “Tôi biết trong cuộc sống vẫn có rất nhiều bạn trẻ mang mặc cảm của sự nghèo khó, của lòng tự ti, nhưng tiền bạc không phải là vốn mà điều quan trọng là phải có những ước mơ lớn lao. Hiện nay, có nhiều bạn trẻ mang trong lòng những ước mơ rất hạn hẹp về những giá trị vật chất mà thiếu đi “chất lửa” của một tuổi trẻ khát khao được cống hiến, được chia sẻ và tâm huyết với những thay đổi lớn lao của dân tộc, của đất nước - đó cũng là một phần lỗi không nhỏ ảnh hưởng của nền giáo dục hiện nay đang làm bào mòn đi tính sáng tạo trong suy nghĩ của họ”.

Với tất cả những gì đã và đang làm được, Đặng Lê Nguyên Vũ đã góp phần tiếp sức để những hạt cà phê thấm đẫm sự nhọc nhằn của người nông dân Việt Nam được chắp cánh xa hơn, chinh phục thị trường thế giới bằng hương vị đậm đà và mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc.

Các giải thưởng đã đạt được

33 tuổi, Đặng Lê Nguyên Vũ đã tạo ra một đế chế cà phê mà danh tiếng của nó vượt ra ngoài biên giới Việt Nam. Anh trở thành thần tượng trong suy nghĩ của giới trẻ với những hoài bão lớn lao, những ý tưởng táo bạo cùng sự thành công thần kỳ của mình. Đại diện cho giới doanh nhân trẻ cả nước, đầu tháng 8 năm nay, Đặng Lê Nguyên Vũ - Tổng Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên đã sang Brunei nhận giải Nhà Doanh nghiệp trẻ xuất sắc nhất ASEAN năm 2004, giải thưởng do Hiệp hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Asean tổ chức 5 năm một lần.

Cùng với Trung Nguyên, anh được đánh giá là một “hiện tượng kinh tế” của Việt Nam cuối thế kỷ 20. Đọc thêm!

Trang