được sưu tầm bởi HXK

đây chỉ là những thông tin về những người mà tôi cho rằng họ giỏi, tôi khâm phục họ, tìm hiểu họ qua cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm cũng như tư tưởng của họ để lại trên thế gian này. cho những con người của thời đại họ sống và cho hậu thế.
Showing posts with label học giả. Show all posts
Showing posts with label học giả. Show all posts

Thursday, July 1, 2010

Albert Einstein

Albert Einstein - Nghịch lý của một thiên tài

Cả thế giới đều thừa nhận EINSTEIN là nhà Vật Lý xuất sắc nhất của mọi thời đại. Đã có không biết bao nhiêu công trình, giai thoại, bài vở,...viết về con người ông. Càng tìm hiểu, người ta càng phát hiện ở nhà khoa học thiên tài này có bao nhiêu điều nghịch lý...

Tuổi thơ dữ dội

Có lẽ ở đời, ai trong số chúng ta cũng đều có chung suy nghĩ là, một ai đó được coi là xuất chúng thì bất luận cái gì liên quan tới họ (đi đứng, nói năng, suy nghĩ...) đều có dáng dấp của thiên tài cả. Tuổi thơ của họ thì dứt khoát phải có nhiều biểu hiện mang đậm dấu ấn “thần đồng”: thông minh trác tuyệt, học hành giỏi giang, cuộc đời trôi chảy... Với A. Einstein thì lại hoàn toàn khác.

Năm 1906, nghe bạn bè nói rằng tác giả của Thuyết tương đối đang làm xôn xao thế giới chính là Albert Einstein, GS Minkowski (từng dạy A. Einstein ở Trường Công nghiệp Liên bang Zurich) đã tròn mắt: "Cái anh chàng lười biếng hay nghỉ học ấy lại là người tìm ra Thuyết tương đối sao? Làm gì có!".

Việc giáo sư nọ ngạc nhiên không phải ngoại lệ. Toàn bộ cuộc sống tuổi thơ của Einstein trôi qua đều bất bình thường tới mức lo ngại.

Ngay cả bà mẹ C. Pouling cũng nhiều lần lo lắng, than thở. Vì khác hẳn với các trẻ khác, tới năm 3 tuổi mà Einstein vẫn chưa nói nên hồn. Cậu phát âm tiếng Đức chẳng ra gì. Đã thế cậu lại chỉ thích thui thủi một mình, chẳng muốn chơi với ai. Có lần, suốt một ngày cậu ngồi im như phỗng trong phòng, chăm chăm nhìn không chớp mắt vào cái la bàn "cố chấp". Theo cậu, cái kim "bướng bỉnh" kia không hiểu sao xoay thế nào rồi nó cũng cứ quay về một phía. Điều an ủi duy nhất với bà Pouling là Einstein rất thích nghe nhạc và bộc lộ một năng khiếu âm nhạc khá rõ. Cái thói quen khác người đó theo suốt chặng đường học phổ thông của Einstein. Bất chấp các quy định khắt khe của nhà trường Đức, Einstein không chịu làm bài, trả bài theo quy định của thầy. Cậu cứ một mình một ý. Đã thế, cậu lại rất hay hỏi vặn những câu hỏi “đâu đâu” chẳng thầy nào trả lời được (thậm chí thầy chẳng thèm đáp lời, vì... ngớ ngẩn). Vì vậy mà điểm học của cậu rất đáng thất vọng. Thầy chủ nhiệm phàn nàn: "Em là một cậu bé khác người, cô độc, khờ khạo và vô kỷ luật. Sau này, chắc chắn em không thể thành công về bất cứ điều gì". Còn các bạn cùng lớp của Einstein thì chẳng ai chơi với cậu. Kết quả là đầu năm 1895, khi đang ở năm cuối bậc trung học, Einstein bị đuổi học.


Theo bố mẹ sang Milan (ý), Einstein phải vào học dự bị. Đến lúc dự thi vào Trường Công nghệ Liên bang Zurich (Thuỵ Sĩ), anh lại bị đánh trượt. Vì điểm kém đã đành, anh lại chưa có bằng tốt nghiệp Trung học. Năm 1896, một lần nữa, Einstein lại phải học tiếp ở Trường trung học Aarau trong một hoàn cảnh hết sức trớ trêu: không gia đình, không bạn bè, không quốc tịch (anh đã từ bỏ quốc tịch Đức, còn quốc tịch Thuỵ Sĩ thì chưa nhập được vì chưa tới 21 tuổi).

Chẳng có ai để ý tới chàng trai mảnh khảnh, kỳ dị, kém cỏi, khác người này. Cho tới khi...

ý muốn thay đổi “Thượng đế”

Cho tới năm 1905, A. Einstein cho đăng một bài báo trên tờ Annale der Physik (Biên niên Vật lý) và bài này sau này được coi là nền tảng cơ bản của Thuyết tương đối hẹp. Cũng chẳng ai để ý tới tiếng nói của một anh chàng vô danh tiểu tốt như Einstein lúc đó. Có lẽ là những vấn đề mà Einstein đề xướng trong đó quá mới mẻ, quá táo bạo, quá khó tới mức rất ít người hình dung ra được. Cho đến khi, một ông giáo làng dạy Toán ở Crarow (Ba Lan) khi đọc đã phải giật mình kinh ngạc. Ông khẩn khoản lên tiếng đề nghị với M. Planck (nhà vật lý người Đức nổi tiếng) tại một hội nghị quốc tế: "Xin ông hãy vì khoa học mà đọc kỹ công trình này. Đây là một ý tưởng có thể sánh ngang với cuộc cách mạng của Nicolai Copernic".

Dù được Planck (và một số người khác thừa nhận), lý thuyết của A. Einstein ban đầu vẫn bị đa số các nhà khoa học coi là "điên rồ", không thể chấp nhận được vì nếu nghe theo sẽ "động chạm tới lương tri của thời đại”. Điều này cũng dễ hiểu, vì trước đó, vật lý học đang tôn thờ một “ông tổ” quá vĩ đại là Isaac Newton. Tư tưởng của Newton dựa trên nguyên lý mọi vật thể bất biến về không gian và thời gian. Đó là quy luật muôn thuở, là lẽ trời, là ý muốn của Thượng đế. Vậy mà bây giờ, có một nhân viên quèn chỉ quen "cạo giấy" ở Cục cấp bằng phát minh sáng chế Berne (Thuỵ Sĩ) lại cả gan nói rằng: “Con đường của Newton là con đường duy nhất đúng mà những người ở thời đại ông có thể đi. Các nguyên lý của ông vẫn còn sức sống trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý. Nhưng giờ đây, muốn hiểu thực sự bản chất của vũ trụ và thế giới, thì những nguyên lý này cần phải được thay thế bằng các nguyên lý khác, đi xa hơn thực nghiệm trực tiếp". Theo Einstein, vận tốc của vật thể càng lớn thì thời gian trôi càng chậm và khi đạt tới vận tốc ánh sáng (300.000 km/s) thì thời gian xấp xỉ bằng 0. Nguyên lý biện chứng không - thời gian này đã được Einstein diễn đạt ngắn gọn: “Theo Newton, khi vật chất biến mất thì không gian thời gian vẫn còn. Nhưng theo tôi, khi vật chất biến mất thì không gian thời gian lập tức cũng biến mất". ý tưởng đó, ngay đến bây giờ, cũng còn có người ngờ vực, huống hồ lúc ấy.

Quan niệm mang tính cách mạng triệt để của Thuyết tương đối đã làm đảo lộn thế giới. Người ta quy kết Einstein đủ tội. Ông bị gán cho là không chỉ đưa ra những luận đề “phản khoa học” mà còn mang tư tưởng báng bổ đến Chúa trời cao cả và thiêng liêng. Đến nỗi một nhà thơ lúc đó đã viết:

Thiên nhiên và những bí ẩn của nó tràn đầy bóng tối

Chúa nói:

Được rồi! Sẽ có Newton

Và tất cả đã sáng rực lên

Nhưng chẳng bao lâu quỷ sứ nói:

Được rồi! Sẽ có Einstein

Và tất cả lại chìm vào bóng tối...

Lịch sử tư tưởng nhân loại đã đúc rút ra một điều là, nhiều khi "nắm bắt thế giới tự nhiên bằng lẽ phải thông thường và kinh nghiệm là rất dễ mắc sai lầm". Einstein đã phải đối mặt với những định kiến khoa học từng ăn sâu vào tiềm thức của biết bao người, của cả thời đại. Ông như một ngư dân đơn độc chèo con thuyền độc mộc vượt qua biết bao bão tố biển khơi.

Kết quả là Thuyết tương đối của Einstein bị phản bác, báng bổ nhiều hơn là khẳng định. Dù đóng góp của ông ở nhiều lĩnh vực đã được thừa nhận, nhưng năm 1921, Hội đồng khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển vẫn chỉ trao giải Nobel cho các phát minh của Einstein về hiệu ứng quang điện. Còn Thuyết tương đối, tuy vĩ đại thật nhưng muốn “ăn chắc” thì "hãy để sau".

Nỗi đau... nguyên tử

A. Einstein đươc coi là nhà hoạt động xã hội, một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho hoà bình. Điều dễ hiểu, là một người Do Thái, ông chính là nạn nhân điển hình của chủ nghĩa phát xít. Hitler đã từng treo giải 20 ngàn mác Đức cho ai giết được ông. Nhưng ông chống chiến tranh không phải vì chuyện thù riêng mà vì căm ghét đến cùng các thế lực cường quyền, phản tiến bộ. Song trớ trêu thay, chuyện này lại dẫn ông đến một bi kịch lớn cuối đời. Năm 1939, Thế chiến II bùng nổ. Khi biết Hitler đang ráo riết bắt các nhà bác học tìm hiểu bí mật chế tạo bom nguyên tử, Einstein đã thuyết phục bằng được tổng thống Mỹ là F. Roosevelt chấp nhận đề án bom nguyên tử do ông đề xuất. Nhưng bọn phát xít tàn bạo không đạt được mục tiêu, trong lúc đó nước Mỹ đã thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên trên đảo Bikini. Thảm hoạ nguyên tử đang đến rất gần, còn chủ nghĩa phát xít gần như đã sụp. Đến lúc này, Einstein lại cùng một loạt các nhà khoa học, lập tức gửi kiến nghị, khẩn khoản đề nghị chính phủ Mỹ dừng kế hoạch ném bom. Song... mặc kệ, H. Truman (Tổng thống Mỹ lúc đó) vẫn ra lệnh thả liên tiếp 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki (vào 6 và 9-8-1945). Hai thành phố bị san bằng và hơn 20 vạn dân Nhật bị cháy thành tro. Biết được chuyện này, Einstein đã mất ngủ, bỏ ăn vì phẫn nộ. Ông đã nhiều lần đau khổ dằn vặt nói: “Mọi người nguyền rủa bom nguyên tử ư? Tiếc thay, chính tôi là kẻ đã bấm nút". Con người vĩ đại kia tiếp tục rơi vào trạng thái cô đơn cùng cực tới lúc cuối đời. Trong hồi kí, ông viết: "Tôi thực sự là một lữ hành đơn độc và chưa bao giờ thuộc về đất nước tôi, ngôi nhà tôi, bạn bè tôi và ngay cả gia đình tôi nữa".

Giờ đây, nhân loại bước vào năm 2005 với bao nhiêu cái mốc đáng nhớ về A. Einstein: 126 năm sinh (1879 - 2005), 50 năm ngày mất (18/4/1955 - 18/4/2005), 100 năm Thuyết tương đối ra đời (1905-2005). Chúng ta như gặp lại nhà bác học năm xưa với bao bài học vẫn còn nóng hổi. Trăm năm cũng chỉ là một khoảng thời gian “tương đối”. Học thuyết của Einstein đã được các tri thức khoa học mới soi rọi, khẳng định và ngày càng lung linh, rực rỡ. Vẫn còn rất nhiều điều thế giới hôm nay phải tiếp tục làm, như một sự tri ân với một nhà bác học lỗi lạc, chỉ một phương trình giản đơn (E = mc2) mà giúp cho con người nhỏ bé có khả năng thâu tóm cả vũ trụ. Albert Einstein, với phát minh được coi là cực kỳ táo bạo, hết sức kỳ lạ và đẹp tới mức toàn bích... đã trở thành biểu tượng kỳ vĩ nhất về ý chí bất khuất của con người trên con đường nhận thức và chinh phục thế giới.

Phạm Văn Tình - Ảnh: wikipedia [Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 173, tháng 7/2005]

xem thêm : Einstein - cuộc đời và sự nghiệp
http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hien-Huu/Einstein-cuoc_doi_va_su_nghiep/ Đọc thêm!

Tuesday, June 29, 2010

nguyên trần bạt

NGUYỄN TRẦN BẠT (sinh 1946)

- Sinh tại Hưng Nguyên, Nghệ An
- Năm 10 tuổi, cùng cha ra Hà Nội sinh sống.
- Trong khoảng thời gian tham gia quân đội, từ 1963 đến 1975, có xuất ngũ theo học trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng dân dụng (1973), ông tiếp tục phục vụ quân đội cho đến khi giải phóng miền Nam.
- Năm 1976-1984, ông công tác tại Bộ Giao thông Vận tải
- Năm 1985-1988, ông công tác tại Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
- Ông là cử nhân luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Năm 1989, ông thành lập công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ InvestConsult Group và làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty cho đến nay.
- Năm 1995, ông tốt nhiệp khoa Luật trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Hiện nay, ông là Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ Việt Nam, thành viên của Hội Luật gia Việt nam, Hiệp hội Luật sư Sáng chế Châu Á (APAA) và Hiệp hội Nhãn hàng Quốc tế (INTA).
- Ông Bạt được coi là người đầu tiên xây dựng một công ty Việt Nam tư vấn chuyên nghiệp về đầu tư và kinh doanh ngay sau khi Việt Nam ban hành chính sách “Đổi mới” năm 1987 mở cửa nền kinh tế Việt Nam cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Ông Bạt là tác giả của rất nhiều bài báo, sách và các công trình nghiên cứu tập trung vào nội dung làm thế nào Việt Nam phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá.
- Ông Bạt được nêu danh trong cuốn Barons Who's Who in Vietnam và Barons Who's Who in Asia Pacific như một luật sư và nhà tư vấn xuất sắc.

Quan điểm sáng tác

Tôi làm hết sức mình để "giải độc cho thế hệ trẻ". Tôi cũng là một người cha. Tôi đã nghĩ nhiều để thế hệ trẻ, thế hệ con tôi bước vào cuộc đời với tư cách những người tự do, những người không nhiễm độc, không định kiến, những người có tầm nhìn hình nan quạt chứ không phải cái nhìn trên một đường thẳng. Xét cho cùng, mục tiêu của con người là sống chứ không phải làm việc. Hiện nay ngành giáo dục đang dạy trẻ con sai, làm con cháu chúng ta thi rất giỏi, nhưng làm thì rất kém. Có những người làm rất giỏi, nhưng sống thì tồi.

Còn công việc sắp tới của tôi là thuyết phục các nhà lãnh đạo về những vấn đề sống còn của đất nước. Tôi không phải là người đối lập, nhưng đem những ý kiến của mình thuyết phục người khác thì tôi làm không mệt mỏi.

Tôi yêu cuộc đời một cách chân thật, yêu cả khuyết tật, nhược điểm của nó. Cuộc sống đối với tôi có những khía cạnh khó khăn, khổ sở nhưng cũng có cả những khía cạnh trìu mến, chứa đựng rất nhiều kỷ niệm tinh thần của tôi. Tôi viết sách là để thể hiện tình yêu của tôi đối với cuộc sống, để góp một phần nho nhỏ của tôi vào sự hợp lý hóa đời sống tinh thần của con người và tôi làm việc ấy một cách yên lặng, một cách âm thầm.

(dần tôi sẽ cóp nhặt từng tác phẩm của ông khi có thời gian) Đọc thêm!

nguyễn lân dũng

Sinh ngày 29 tháng 9 năm 1938 tại xã Phùng Chí Kiên, Mỹ Hào, Hưng Yên. Tiến sĩ Sinh học. Tham gia giảng dạy Đại học từ năm 1957, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu vi sinh vật học ứng dụng, Tổng thư ký Hội vi sinh vật học VN, Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam.
Về chuyên môn nghiệp vụ:

a. Giảng dạy đại học và trên đại học:

- Vi sinh vật học, Vi nấm, Thiết bị và các quá trình Công nghệ sinh học, Vi sinh vật học đất, Vi sinh vật học ứng dụng v.v...

- Giảng dạy thỉnh giảng cho Đại học Tổng hợp Huế, Đại học Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Nông nghiệp Thái Nguyên, Viện Đại học mở Hà Nội , Quảng Tây.v.v...

b. Biên soạn giáo trình và sách tham khảo:

- Đã biên soạn nhiều giáo trình giảng dạy trong trường (in roneo và in photocopy), ngoài ra đã xuất bản nhiều sách giáo khoa sử dụng rộng rãi trong cả nước.

- Biên soạn (chủ biên) giáo trình Vi sinh vật học (dùng chung cho nhiều trường Đại học), đã tái bản có sửa chữa 5 lần. Đang biên soạn giáo trình mới và đưa lên mạng http://vietsciences.free.fr

- Biên soạn sách giáo khoa Sinh học lớp 10 cho phân ban Khoa học Tự nhiên, Khoa học và Kỹ thuật, đã tái bản có sửa chữa hàng năm.

- Đã biên soạn trên 30 đầu sách tham khảo cho học sinh phổ thông và sinh viên Đại học (xem Danh mục các công trình khoa học đã công bố).

c. Đào tạo cử nhân, thạc sĩ, phó tiến sĩ, tham gia các hội đồng chấm luận án trên Đại học

- Đã hướng dẫn rất nhiều luận án và khoá luận cử nhân sinh học, công nghệ sinh học từ 1958 đến nay (không nhớ hết số lượng).

- Đã hướng dẫn luận án phó tiến sĩ cho 5 nghiên cứu sinh, luận án thạc sĩ cho 5 học viên cao học.

- Đã làm chủ tịch hoặc uỷ viên Hội đồng chấm rất nhiều luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ hàng năm (không nhớ hết số lượng).

Nghiên cứu khoa học:

a. Chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học:

- Đã làm chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước trong 15 năm liền, từ chương trình sinh học phục vụ nông nghiệp sang chương trình công nghệ sinh học. Các đề tài đều xuất sắc khi nghiệm thu.

- Đã có kết quả đột xuất trong việc điều trị thương binh nhiễm trực khuẩn mủ xanh và được điều đi phục vụ trực tiếp chiến dịch đường 9 Nam Lào, cứu chữa cho hàng trăm thương binh, sau đó tiếp tục tham gia điều trị tại Viện Quân y 109 và 108.

- Được bầu làm chủ nhiệm chương trình tự nguyện đưa tiến bộ Khoa học Kỹ thuật vào hộ nông dân vì hoạt động có hiệu quả (mỗi tuần chó 1 phim trong chương trình Bạn của nhà nông).

- Đã được cử làm đại diện của Việt Nam trong tổ chức Mạng lưới nghiên cứu Vi sinh vật học Châu Á (ANMR) và Liên hiệp Châu Á về Bảo quản và Sử dụng bền vững Tài nguyên vi sinh vật (ACM)

b. Công trình nghiên cứu khoa học:

- Đã công bố 158 công trình khoa học, các sách khoa học ở trong nước và ngoài nước (xem danh mục các công trình khoa học đã công bố - tài liệu kèm theo).

- Đã chủ trì việc xây dựng Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật (VTCC - Vietnam Type Culture Collection), được chính phủ xác định là phòng thí nghiệm trọng điểm và đã quyết định đầu tư 1.400.000 USD (đợt 1995 là 400.000 USD, đợt 200- 2001 là 1.000.000 USD). Đang xây dựng dự án thành lập Viện Vi sinh vật học Việt Nam (đã được Thủ tướng đồng ý về nguyên tắc)

Các hoạt động khác:

- Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá III, IV, V).

- Đại biểu Quốc hội khoá X và khoá XI, đang ứng cử Quốc hội khóa XII; Uỷ viên Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội.

- Tổng thư ký Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc.

- Uỷ viên Ban chấp hành Liên đoàn Lao động Hà Nội (15 năm).

- Uỷ viên Hội đồng Sinh học - Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Uỷ viên Hội đồng Khoa học Sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Uỷ viên Ban biên tập Tạp chí Sinh học.

- Uỷ viên Hội đồng biên tập báo Nhân dân hàng tháng

- Uỷ viên Hội đồng biên tập Tạp chí Nhịp cầu-Đầu tư

- Chủ nhiệm Chương trình tự nguyện đưa tiến bộ Khoa học Kỹ thuật vào hộ nông dân. - Uỷ viên thường vụ Hội hữu nghị Việt - Trung.

- Phó chủ tịch Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài. - Phó chủ tịch thường trực Hội các ngành Sinh học Việt Nam. - Tổng thư ký Hội Vi sinh vật học Việt Nam. - Nguyên Phó chủ tịch Hội Sinh vật cảnh Hà Nội - Nguyên Phó giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Những hình thức khen thưởng:

- Huân chương lao động hạng 3.

- Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng 2.

- Chiến sĩ thi đua 19 năm .

- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

- Hai bằng độc quyền giải pháp hữu ích của Cục Sáng chế (đồng tác giả). - 1 huy chương vàng và 2 huy chương bạc (đồng tác giả) của Triển lãm Khoa học - Kinh tế toàn quốc. - Nhà giáo ưu tú - Huy chương vì sự nghiệp giáo dục, Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân, huy chương vì sự nghiệp Công đoàn, Huy chương vì giai cấp nông dân Việt Nam, Huy chương về thế hệ trẻ, Huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Huy chương vì sự nghiệp truyền hình.

DANH MỤC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
(1960-2006)

1. Nghiên cứu sơ bộ về Azotobacter Clostridium pasteurianum, Sinh vật Địa học, 17-12, 1960 (Cộng tác với Tạ Duy Hiến).

2. Nghiên cứu khu hệ vi sinh vật trong đất trồng lúa, Trung văn, 37 trang in. Báo cáo khoa học tại Hội nghị Thổ nhưỡng học tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, 1961.

3. Nhận xét đầu tiên về hoạt động vi sinh vật trong quá trình ủ phân tại ruộng, Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 4, 227-231, 1962 (Cộng tác với Nguyễn Đình Quyền, Tạ Duy Hiến).

4. Nghiên cứu lựa chọn phương pháp nhuộm tiên mao vi khuẩn, Thông báo khoa học trường Đại học Tổng hợp, phần Hoá sinh, T.1, 40-42, 1962 (Cộng tác với Nguyễn Đình Quyến).

5. Nhận xét đầu tiên về sự phân bố của vi sinh vật cố định nitrogen trong đất trồng lúa nước ở Việt Nam, Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 5, 1964.

6. Bước đầu nghiên cứu về kích thích tố thực vật gibberellin, Thông báo khoa học trường Đại học Tổng hợp, phần Sinh vật, T.1, 68, 1965 (Cộng tác với Nguyễn Đình Quyến).

7. Một số kết quả bước đầu trong việc nghiên cứu sử dụng vi sinh vật để chế biến thực phẩm, Tin tức hoạt động khoa học, I, 26-63, 1967 (Cộng tác với Lý Kim Bảng).

8. Nghiên cứu biện pháp chống nấm để bảo quản một số sản phẩm công nghiệp nhẹ, kỹ thuật công nghiệp nhẹ, 3, 10-15, 1968 (Cộng tác với Trần Thị Thanh, Trương Văn Năm).

9. Bước đầu nghiên cứu các nhóm vi sinh vật cố định đạm ở Việt Nam và ảnh hưởng của chúng đối với cây trồng. Nghiên cứu đất phân, T.1, Nhà xuất bản khoa học, 96-128, 1969.

10. Bước đầu nghiên cứu một số loại nấm men phân lập ở Việt Nam và khả năng sử dụng chúng trong chăn nuôi - Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 10, 663-668, 1969.

11. Ủ men là biện pháp kỹ thuật hỗ trợ tích cực cho việc nuôi lợn bằng thức ăn sống, Báo cáo tại Hội nghị khoa học, Uỷ ban KHKTNN, 1969.

12. Giá trị dinh dưỡng của nấm men và việc sản xuất, sử dụng nấm men gia súc hiện nay. Nấm men dùng trong chăn nuôi lợn. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 239-257, 1970.

13. Vấn đề sử dụng chất kháng sinh trong chăn nuôi gia súc và gia cầm. Nấm men dùng trong chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 216-238, 1970.

14. Bước đầu nghiên cứu khả năng sinh tổng hợp B12 của nòi vi khuẩn Prop. shermanii TH1 - 69, Thông báo khoa học ĐHTH, Phần sinh vật học, T.5, 55-67, 1970 (Cộng tác với Lê Khắc Kiều An và Tạ Duy Hiến).

15. Bước đầu nghiên cứu các nhóm vi sinh vật cố định đạm ở Việt Nam và phương hướng tận dụng chúng để nâng cao năng suất lúa - Thông báo khoa học Trường Đại học Tổng hợp, phần Vi sinh vật học, T.4, 114-130, 1969.

16. Sự sống quanh ta - Phần “Thế giới không nhìn thấy”. NXB Kim Đồng, 1971 (với 3 người khác).

17. Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, T.I, 471 trang - NXB khoa học và kỹ thuật, 1972 (cùng với 4 người khác).

18. Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, T.II, NXB khoa học và kỹ thuật, 1972 (cùng với 4 người khác).

19. Vi sinh vật - các chiến sĩ nông nghiệp không nhìn thấy, Đường vào khoa học, NXB Khoa học và kỹ thuật, T.3, 132-166, 1974.

20. Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, tập III, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1978 (cùng với 5 người khác).

21. Tuyển tập Vi sinh vật học, tập I, nhiều tác giả, NXB Khoa học và kỹ thuật, 1969.

22. Tuyển tập Vi sinh vật học, tập II, nhiều tác giả, NXB Khoa học và kỹ thuật, 1972.

23. Khả năng và triển vọng của việc sử dụng sinh khối vi sinh vật để làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi. Thông tin sinh vật học, 3, 29-36, 1974.

24. Vi sinh vật học, T.I, NXB Đại học và THCN - 219 trang, 1975 - Tái bản có sửa chữa, 1980 (Cộng tác với Phạm Văn Tỵ, Dương Đức Tiến).

25. Vi sinh vật học, T.II, NXB Bộ Đại học và THCN, 1976 (Cộng tác với Phạm Văn Tỵ và Nguyễn Đình Quyến).

26. Nghiên cứu lựa chọn các chủngnấm men có khả năng tích luỹ sinh khối nhanh và có hoạt tính phân giải tinh bột cao để sử dụng trong việc chế biến thức ăn gia súc gia cầm, Báo cáo tại Hội nghị khoa học Uỷ ban KHKTNN, tháng 11-1975.

27. Nghiên cứu khả năng phân giải xenlulôza của một số chủng vi sinh vật phân lập ở Việt Nam, Báo cáo tại Hội nghị khoa học Uỷ ban KHTKNN, 13-14 tháng 11-1974.

28. Nghiên cứu cải tiến phương pháp sản xuất chế phẩm vitamin B12 thô dùng trong chăn nuôi, Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 7, 517-523, 1975 (Cùng với Trần Thị Thanh và Lê Khắc Kiều Ân).

29. Góp phần nghiên cứu cải tiến cơ cấu thức ăn trong khẩu phần chăn nuôi lợn, Báo cáo tại Hội nghị khoa học năm 1976 của trường Đại học Tổng hợp.

30. Đặc điểm sinh học và vị trí phân loại của chủng nấm men Endomycopsis 119, Báo cáo tạo Hội nghị khoa học năm 1978, trường Đại học Tổng hợp (Cộng tác với Vũ Minh Đức).

31. Một số đặc điểm của Glucoamylaza ở chủng nấm men Endomycopsis 119. Báo cáo tại Hội nghị khoa học năm 1978 của trường Đại học tổng hợp (Cộng tác với Nguyễn Đình Quyến và Vũ Minh Đức).

32. Khả năng tích luỹ amylaza ở một số chủng Endomycopsis fibuligera đã được lựa chọn và ảnh hưởng của một số điều kiện lên hoạt tính của men này. Tạp chí Sinh vật học, 4, 2, 1-5, 1980 (Cộng tác với Vũ Minh Đức và Nguyễn Đình Quyến).

33. Nghiên cứu lựa chọn các chủng nấm men có khả năng tích luỹ sinh khối nhanh và có hoạt tính phân giải tinh bột cao để sử dụng trong việc chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, Báo cáo tại Hội nghị khoa học năm 1976 của trường Đại học Tổng hợp (Cộng tác với Vũ Minh Đức và Tạ Duy Hiến).

34. Nghiên cứu sử dụng tinh bột chất lượng thấp và phân khoáng để sản xuất sinh khối nấm men Endomycopsis 119 phục vụ chăn nuôi, Báo cáo tại Hội nghị khoa học năm 1978 của trường Đại học Tổng hợp (Cộng tác với Nguyễn Thiện Luân, Nguyễn Văn Lộc và Tạ Duy Hiến).

35. Nghiên cứu lựa chọn các chủng Endomycopsis fibuligera có tốc độ tích luỹ protein cao trên môi trường tinh bột, Báo cáo tại Hội nghị khoa học năm 1979 của trường Đại học Tổng hợp (Cộng tác với Tạ Duy Hiến).

36. Nghiên cứu lựa chọn các chủng nấm men tích luỹ sinh khối nhanh trên môi trường bã rượu và khả năng sử dụng chúng phục vụ chăn nuôi. Báo cáo tại Hội nghị khoa học 1979 của Trường Đại học Tổng hợp (Cộng tác với Tạ Duy Hiến).

37. Khả năng phát triển công nghiệp lên men ở cấp huyện để góp phần phục vụ sản xuất nông nghiệp, Báo cáo tại Hội nghị chuyên đề về “cấp huyện” do Bộ Đại học và THCN tổ chức.

38. Vi sinh vật học trồng trọt, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, 1979 (Cộng tác với Đường Hồng Dật, Nguyễn Đường, Nguyễn Thị Thanh Phụng, Trần Cẩm Vân, Hoàng Lương Việt).

39. Vi nấm, Nhà xuất bản KHKT, 1982 (Cộng tác với Bùi Xuân Đồng, Lê Đình Lương).

40. Sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh vật diệt côn trùng, NXB khoa học và kỹ thuật, 1981.

41. Một số sản phẩm của vi nấm, NXB khoa học và kỹ thuật, 1983.

42. Lựa chọn chủng Rhizopus và nghiên cứu điều kiện sản xuất sinh khối phục vụ chăn nuôi. Báo cáo tại Hội nghị khoa học Vi sinh vật học ứng dụng toàn quốc lần thứ nhất, tháng 10, 1981 (Cộng tác với Đặng Bích Ngọc, Lê Hồng Mai).

43. Development of biological nitrogen sources for agricultural prupose in Vietnam, Rhizobium Newsletter (Australia), 26(1), 48-49, 1981.

44. Initiaal research efforts in to the possibility of using microbiological measures as a contribution to solving the problem of nitrogen balance in argiculture in Vietnam. Báo cáo khoa học tại Hội nghị cố định nitrogen của các nước Châu Á, Colombo (Srilnaka), 1981.

45. Molecular biology and the task of econonmic rahabilitation and developmen in the Socialist Republic of Vietnam, Báo cáo tại Hội nghị Sinh học phân tử Châu Á, Kyoto, 1981.

46. Các thực phẩm lên men truyền thống của các dân tộc ở vùng Đông Nam Á và Đông Á, Tạp chí Dân tộc học, 1, 1982.

47. Enzym vi sinh vật, NXB Khoa học và kỹ thuật, T.I, 1982 (Cộng tác với Lê Ngọc Tú, Lã Văn Chữ, Phạm Trân Châu).

48. Enzym vi sinh vật. NXB Khoa học và kỹ thuật, T.II, 1982 (Cộng tác với Lê Ngọc Tú, Lã Văn Chữ, Phạm Trân Châu).

49. Nghiên cứu sử dụng vi sinh vật để sản xuất các loại sinh khối giàu protein và vitamin phục vụ chăn nuôi, Tạp chí Thông tin chuyên đề, Viện thông tin khoa học và kỹ thuật Trung ương, 41, 17-19, 1980.

50. Sản xuất sinh khối nấm men theo phương pháp lên men chìm, Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng, 1983.

51. Amylaza của hai chủng Aspergillus đã được lựa chọn, Tạp chí Sinh học, 7, 3, 33-36, 1985 (Cộng tác với Nguyễn Bích Ngà).

52. Lựa chọn chủng Saccharomyces cerevisiae thích hợp với quá trình lên men rượu theo các quy trình đơn giản, Tạp chí Tin tức Sinh học thực nghiệm, 2, 18-24, 1985 (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi).

53. Khả năng sinh tổng hợp axit xitric của một số chủng Aspergillus niger đã được lựa chọn. Tạp chí Tin tức sinh học thực nghiệm, 2, 25-29 (Cộng tác với Nguyễn Thanh Hương).

54. Nghiên cứu sử dụng sinh khối nấm sợi đồng hoá tinh bột để nâng cao chất lượng thức ăn chăn nuôi. Tạp chí Sinh học (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Bích Ngà).

55. Khu hệ nấm gây bệnh cho người. Tạp chí Sinh học (Cộng tác với Trần Liên Hương).

56. Những hiểu biết mới về enzym. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 152 trang, 1983 (Cộng tác với Phạm Thị Trân Châu, Lã Minh Chữ, Lâm Chi, Đỗ Đình Hồ, Lê Ngọc Tú).

57. Mười vạn câu hỏi. Nhà xuất bản khoa học, Tập 1, 1961 (dịch cùng với Quang Cùng).

58. Hoá học của đất ngập nước, Nhà xuất bản khoa học, 1963 (dịch cùng với Mạnh Phương).

59. Cơ sở sinh lý học Vi sinh vật, Nhà xuất bản khoa học, 1964 (dịch cùng với Ngô Kế Sương, Phạm Văn Ty).

60. Lựa chọn các chủng nấm men và những điều kiện tối ưu để sản xuất sinh khối nấm men cho người và gia súc theo các quy trình đơn giản, Hội nghị tổng kết 5 năm chương trình nghiên cứu VH-3, Khoa Sinh học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 31-12-1984 (Cộng tác với Dương Văn Hợp, Nguyễn Thị Mùi).

61. Lựa chọn chủng nấm men và xây dựng một quy trình mới sản xuất nước quả lên men BIEST1, Hội nghị Tổng kết 5 năm chương trình nghiên cứu VH-3, khoa Sinh học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 31-12-1984 (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi).

62. Phân lập và lựa chọn một số chủng Bacillus có khả năng sinh tổng hợp proteineza ngoài bào, Tạp chí sinh học, 1984 (Cộng tác với Doãn Huy Nghi).

63. Nghiên cứu điều kiện nuôi cấy tối ưu cho việc sản sinh proteinaza ngoại bào của chủng Bac. mesentericus N5 phân lập từ chượp cá ở Hà Nội, Tạp chí Sinh học 1984 (Cộng tác với Doãn Huy Nghi).

64. Khả năng sinh tổng hợp Bacitracin từ một số chủng vi khuẩn đã được lựa chọn. Hội nghị khoa học chuyên đề lần thứ hai về Vi sinh vật học ứng dụng. Hội vi sinh vật học Việt Nam và Hội Liên hiệp khoa học kỹ thuật Hà Nội, 9-1983 (cộng tác với Cù Thu Hoài, Từ Minh Koóng).

65. Lựa chọn chủng Saccharomyces cerevisiae thích hợp với quá trình lên men rượu từ rỉ đường theo các quy trình đơn giản. Hội nghị khoa học chuyên đề lần thứ hai về Vi sinh vật học ứng dụng, Hội Vi sinh vật học Việt Nam và Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật Hà Nội, 9-1983 (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi).

66. Nhân giống sục khí Acetobacter để cải tiến quy trình sản xuất giấm ăn. Hội nghị khoa học chuyên đề lần thứ hai về Vi sinh vật học ứng dụng, Hội Vi sinh vật học Việt Nam và Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật Hà Nội, 9-1983 (Cộng tác với Nguyễn Xuân Mai).

67. Lựa chọn chủng nấm men tích luỹ sinh khối nhanh trên môi trường rỉ đường và nghiên cứu điều kiện phân sinh khối thu được. Hội nghị khoa học chuyên đề lần thứ hai về Vi sinh vật học ứng dụng, Hội vi sinh vật học Việt Nam và Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật Hà Nội, 9-1983 (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà).

68. Biến động số lượng nấm men và lượng chứa protein trong thức ăn chăn nuôi ủ men, Hội nghị khoa học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1984 (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà).

69. Lựa chọn môi trường tối ưu để sản xuất sinh khối nấm men Endomycopsis fibuligera phục vụ chăn nuôi, Hội nghị khoa học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1984 (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà).

70. Thu nhận sinh khối nấm men từ rỉ đường theo quy trình lên men hở trong bể lớn, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, 323, 5, 310-313, 1989 (Cộng tác với Lê Xuân Phương).

71. Nghiên cứu điều kiện lên men bề mặt sản xuất sinh khối nấm sợi giàu protein từ sắn, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, 332, 2, 120-122, 1990 (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Thanh Hương).

72. Đặc điểm sinh học của chủng nấm sợi dùng để sản xuất sinh khối giàu protein từ cơ chất giàu tinh bột. Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, 7, 1, 38-40, 1989 (Cộng tác với Bùi Xuân Đồng, Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo).

73. Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về nấm sợi, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, 9, 3, 183-184, 1989 (Cộng tác với Đinh Huỳnh, Lê Thị Phú).

74. Thu nhập ngân hàng gen từ 2 chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae PIS4 và D2B, Tạp chí di truyền học và ứng dụng, 2, 19-23, 1988 (Cộng tác với Nguyễn Ngọc Thảo).

75. Điều kiện sản xuất sinh khối nấm sợi Aspergillus hennebergii TH 386 trên môi trường xốp sắn ngô. Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, 1991 (Cộng tác với Nguyễn Anh Bảo, Nguyễn Thế Hoà).

76. Nghiên cứu điều kiện lên men chìm để sản xuất sinh khối nấm sợi Aspergillus hennebergii TH 386, Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, 1990 (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo, Dương Văn Hợp).

77. Sử dụng glucoamylaza thuỷ phân tinh bột để lên men cồn, Tạp chí Sinh học, 1990 (Cộng tác với Dương Văn Hợp).

78. Sinh học phục vụ sản xuất và đời sống, Tập I, Nhà xuất bản Giáo dục, 1987.

79. Sinh học phục vụ sản xuất và đời sống, Tập II, Nhà xuất bản Giáo dục, 1987.

80. Chuyện là trong thế giới xanh, Nhà xuất bản giáo dục 1989.

81. Tìm hiểu về công nghệ Sinh học, Nhà xuất bản Giáo dục 1992.

82. Những điều kỳ diệu. “Khoa học phổ thông” xuất bản 1990 (cộng tác với Nguyễn Hữu Thước, Nguyễn Văn Uyển, Nguyễn Ngọc Thảo, Phan Bảo An).

83. Tình hình nghiên cứu khí sinh học ở Việt Nam, Báo cáo tại hội nghị khoa học toàn quốc về khí Sinh học, TP Hồ Chí Minh, 1989 (Cộng tác với Phạm Văn Ty).

84. Lên men không vô trùng để thu nhận sinh khối nấm men và nấm sợi. Báo cáo tại Hội nghị khoa học của Liên đoàn quốc tế Vi sinh vật học (IUMS), Osaka (Nhật Bản), 1990.

85. Đặc điểm enzym của chủng Aspergillus hennebergii TH 386. Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, 1991, 332, 4, 437- 439.

86. Tradicionnue productư narodov voxtotrnô iy ug. Voxtotrnoi Ajyi, Pisevaia promuslenoxch, 2, 83, 1991.

87. Phân lập và khảo sát hoạt tính của vi khuẩn chuyển hoá sắt. Tạp chí Sinh học, 12, 17-20, 1988.

88. Sản xuất sinh khối nấm men và nấm sợi bằng phương pháp lên men hở không vô trùng (cùng 4 cộng sự), thông báo khoa học các trường Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo, phần Sinh học và Nông nghiệp, 1991.

89. Sản xuất và ứng dụng enzym (cùng 3 tác giả khác), Thông báo khoa học trường Đại học Tổng hợp, 1991.

90. Công nghệ sinh học - một cơ hội cho tất cả, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1992 (Cùng với Lê Văn Nhương).

91. Công nghệ sinh học và phát triển, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 1992 (Dịch cùng với 5 dịch giả khác).

92. Phát triển công nghệ sinh học nhằm cải thiện điều kiện dinh dưỡng của người và động vật chăn nuôi, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc gia về công nghệ Sinh học, (10-12/12/1991).

93. Bước đầu nghiên cứu về Azotobacter ở Việt Nam. Báo cáo khoa học tại Hội thảo Quốc gia về Nuôi trồng và sử dụng các tế bào tự dưỡng (22-25/11/1992).

94. Truyện kể các nhà sinh học xuất sắc. Nhà xuất bản Giáo dục 1993.

95. Nghiên cứu khả năng tích luỹ sinh khối của chủng Aspergillus hennebergii TH 386 trên môi trường nuôi cấy dịch thể chứa bột sắn sống. (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo, Lê Chí Công). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 3-7.

96. Lên men rắn nguyên liệu Ligno-xenluloza bằng giống hỗn hợp. (Cộng tác với Phạm Hồ Trương, Phạm Văn Ty). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 27-30.

97. Một số loài men phân lập từ các nước ép hoa quả ở Việt Nam. (Cộng tác với Tống Kim Thuần). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 47-49.

98. Nghiên cứu xạ khuẩn phân giải xenluloza để xử lý phế thải đô thị. (Cộng tác với Phạm Văn Ty, Phạm Hồ Trương, Đoàn Huyền Lương). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 50-53.

99. Tuyển chọn các chủng nấm men phát triển nhanh và tích luỹ nhiều protein trên môi trường có nguồn cacbon là rỉ đường hoặc bã rượu. (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 60-62.

100.Phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi có khả năng phát triển nhanh trên môi trường có nguồn carbon là tinh bột. (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo, Nguyễn Tường Linh). Tạp chí Sinh học 1993, 15(4): 63-65.

101.Phân lập và tuyển chọn các chủng nấm sợi có khả năng sinh glucoamylaza thuỷ phân tinh bột sống. (Cộng tác với Dương Văn Hợp, Nguyễn Thu Hoài). Tạp chí Sinh học 1993, 15(4): 66-69.

102.Tuyển chọn chủng nấm men phù hợp với yêu cầu sản xuất rượu vang. (Cộng tác với Dương Văn Hợp, Trần Ngọc Hoa). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 75-78.

103.Hoạt tính Gluconmylaza thủy phân tinh bột sống của một số chủng nấm sợi mới phân lập được. (Cộng tác với Dương Văn Hợp, Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Đình Quyến). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 82-86.

104.Nhân giống sục khí Acetobacter để cải tiến quy trình sản xuất giấm ăn. (Cộng tác với Nguyễn Xuân Mai). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 87-90.

105.Phân lập và tuyển chọn các chủng nấm men thuộc chi Sacharomycopsis tích luỹ sinh khối cao trong môi trường có nguồn carbon duy nhất là tinh bột. (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi, Cù Phương Lan). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 100-104.

106.Lên men trực tiếp bã sắn sống để phục vụ chăn nuôi. (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo, Nguyễn Quang Vinh). Tạp chí Sinh học, 1993, 15(4): 115-118.

107.Nghiên cứu sử dụng nấm sợi Aspergillus niger để chế biến sắn sống phục vụ chăn nuôi. (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Anh Bảo). Thông báo khoa học của các trường Đại học, phần Sinh học - Nông nghiệp, 1994, 90-96.

108.Lựa chọn thành phần môi trường lên men ethanol trực tiếp từ bột sắn sống. (Cộng tác với Dương Văn Hợp, Nguyễn Đình Quyến). Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia và khu vực nhân năm Louis Pasteur: Vi sinh vật học và Công nghệ sinh học, 1995, 506-511.

109.Nghiên cứu lựa chọn môi trường để sản xuất gói bào tử nấm sợi Asp. niger TH3 92 (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo). Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia và Khu vực nhân năm Louis Pasteur: Vi sinh vật học và Công nghệ sinh học, 1995, 517-521.

110.Nghiên cứu sử dụng nấm sợi Aspergillus niger TH3 92 để nâng cao chất lượng sắn lát phục vụ cho chăn nuôi. (Cộng tác với Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo, Bùi Xuân Long). Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia và Khu vực nhân năm Louis Pasteur: Vi sinh vật học và Công nghệ sinh học, 1995, 529-534.

111.Nuôi cấy hỗn hợp nấm sợi - nấm men trên môi trường bã bia bột sắn để dùng làm thức ăn phục vụ chăn nuôi (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi). Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia và Khu vực nhân năm Louis Pasteur: Vi sinh vật học và Công nghệ sinh học, 1995, 541-543.

112.Sản xuất sinh khối nấm sợi và ethanol từ bột sắn sống (Cộng tác với Dương Văn Hợp, Nguyễn Đại Nghĩa). Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia và Khu vực nhân năm Louis Pasteur: Vi sinh vật học và Công nghệ sinh học, 1995, 541-543.

113.Thực nghiệm thay thế 50%-60% thức ăn hỗn hợp bằng sắn - ngô lên men trong chăn nuôi bò sữa (Cộng tác với Lê Văn Ngọc, Lê Trọng Lạp, Nguyễn Thế Hoà, Nguyễn Anh Bảo). Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia và Khu vực nhân năm Louis Pasteur: Vi sinh vật học và Công nghệ sinh học, 1995, 558-563.

114.Study on utilization of Aspergillus niger for processing of raw cassava to be used in animal husbandry. Second International Scientific Meeting Cassacva Biotechnology Network-CBN H, Bogor, 22-26 August, 1994.

115.Protein enrichment of cassava and maize using solid state fermentation with the strain Aspergillus niger TH 92. International Conference on Biotechnology Research and Applications of Sustainable Development-BRASD, Bangkok, 7-10 August, 1995.

116.Producing biomass of filamentous fungi and ethanol from raw cassava starch. International Conference on Biotechnology Research and Application for Sustainable Research and Application for Sastainable Development-BRASD Bangkok, 7-10, August, 1995.

117.Intitial development in biotechnology and biosafety in Vietnam, South East Asian Regional Meeting on Biosafety, Bangkok, 8 August, 1995.

118.La biologie à l’ècole au Vietnam et l’envol économique à la campagne. Dans “Didactique des enseignants”. Eds.: Claude conmiti et al., Maison d’édition de l’Education, 1995, 215-216.

119.Sinh học 10, Ban khoa giáo tự nhiên và Ban khoa học thực nghiệm (Cộng tác với Phạm Đình Thái). Nhà xuất bản Giáo dục 1994.

120.Sinh học 10 - Sách giáo viên (Cộng tác với Phạm Đình Thái). Nhà xuất bản Giáo dục, 1994.

121.Hỏi đáp về Thế giới thực vật. NXB Giáo dục, 1997.

122.Nghiên cứu sản xuất thạch dừa (Nata de Coco), trang 30-37. Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36, số 6B, 1998. (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi).

123.Nghiên cứu điều kiện nuôi cấy vi khuẩn Bacillus thuringiensis để diệt trừ sâu tơ hại rau (Plutella xylostella) trang 44-48, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36, số 6B, năm 1998 (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi, Lê Thị Hoàng Yến).

124.Nghiên cứu quy trình đơn giản để sản xuất vi khuẩn Bacillus thuringiensis tại địa phương, trang 49-53, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36 số 6B năm 1998 (Cộng tác với Nguyễn Thị Mùi, Vũ Thanh Vân, Nguyễn Thu Hà).

125.Khả năng hình thành chất kích thích sinh trưởng thực vật của vi khuẩn vùng rễ cây, trang 64, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36 số 6B năm 1998 (Cộng tác với Nguyễn Hoài Hà, Kiều Hữu Ảnh, Nguyễn Kim Quy).

126.Nghiên cứu đặc điểm sinh học của 3 chủng vi khuẩn có khả năng chuyển hoá phốtpho khó tan, trang 70-74, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36 số 6B năm 1998 (Cộng tác với Nguyễn Hoài Hà, Nguyễn Anh Đào).

127.Nghiên cứu đặc điểm nuôi cấy và khả năng phân huỷ Hydrocacbon trong dầu mỏ của chủng vi khuẩn Pseudomonass sp H2, trang 100-107, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36 số 6B năm 1998 (Cộng tác với Nguyễn Hoài Hà, Phạm Văn Ty, Đặng Xuyến Như).

128.Tuyển chọn chủng nấm men có khả năng lên men Ethanol ở pH thấp, trang 108-112, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36 số 6B năm 1998 (Cộng tác với Chu Thị Thanh Bình).

129.Thử nghiệm ứng dụng chế phẩm EM trong xử lý nước thải bệnh viện, trang 113-117, Tạp chí Khoa học và công nghệ, tập 36 số 6B năm 1998 (Cộng tác với Chu Thị Thanh Bình).

130.Criteria of some Photosynthetic bacteria newly isolated in Hanoi areas and studying on their application in producing biological fertilizer, pp34. International conference on Asian Network on Microbial Research (ANMR) Dec. 29-Jan 1999. Chieng Mai, Thailand (Cộng tác với Nguyễn Thị Hoài Hà).

131.Effect of Momosertatin on the growth of microorganisms 8th, 1998, FOBMB congress, 22-27. November 1998, Kuala Lumpur, Malaysia, Abstracts C26 (Cộng tác với Phạm Thị Trân Châu, M.T. Hùng, V.T. Hao, N.H. Hà).

132.Ballistoconidiogenous yeasts living in the phyllosphere in Vietnam. International Conference on Asian Network on Microbial Research (ANMR). Dec. 29 Jan 1/1999, Chieng Mai, Thailand (Cộng tác với Đào Thị Lương, M. Talashima, Phạm Văn Ty, T. Nakase).

133.Em biết gì về cơ thể người? Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.

134.Hỏi gì đáp nấy. Tập 1. Nhà xuất bản Trẻ, 1999.

135.Hỏi gì đáp nấy. Tập 2. Nhà xuất bản Trẻ, 1999.

136.Hỏi gì đáp nấy. Tập 3. Nhà xuất bản Trẻ, 1999.

137.Nấm ăn - Sinh học và công nghệ, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2000.

138.Tri thức là sức mạnh. Nhà xuất bản Thanh niên, 2000.

139.Four newspecies of Kockovaella isolated from plant leaves collected in Vietnam-2000, K. Gen, Appl. Microbiol (Cộng tác với Đào Thị Lương, M. Talashima, Phạm Văn Ty, T. Nakase).

140.Khảo sát các loài nấm men sinh bào từ bắn thuộc chi Bullera Kockovaella mới tìm thấy ở Việt Nam, trang 140-145. Hội thảo quốc tế về sinh học, tháng 7/2001.

141.Vài nhận xét chính về khung chương trình (thí điểm) trung học cơ sở môn sinh, trang 403-407. Hội thảo về quốc tế về sinh học, tháng 7/2001.

142.Kockovaella cucphuongensis - Một loài nấm men mới phân lập từ Vườn quốc gia Cúc Phương, trang 139-146. Tạp chí Sinh học, tập 23, số 3a, tháng 9/2001 (Cộng tác với Phạm Văn Ty - Đào Thị Lương, Takashima).

143.Công nghệ nuôi trồng nấm. Tập I, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2002.

144.Nghĩ và viết. Nhà xuất bản Hải Phòng, 2002.

145.Tư vấn xã hội. Tri thức là sức mạnh, Nhà xuất bản Thanh niên, 2002.

146.Công tác quản lý nguồn gen vi sinh vật tại Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vạt (VTCC), Trung tâm Công nghệ sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong sách “Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong kế hoạch sự sống”, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2003, trang 861-864 (Cộng tác với Dương Văn Hợp).

147.Hỏi gì đáp nấy. Tập 4. Nhà xuất bản Trẻ, 2003.

148.Hỏi gì đáp nấy. Tập 5. Nhà xuất bản Trẻ, 2003.

149.Hỏi gì đáp nấy. Tập 6. Nhà xuất bản Trẻ, 2003.

150.Hỏi đáp và thế giới vi sinh vật, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004.

151.Tài nguyên vi sinh vật Việt Nam. Trong sách “Bách khoa toàn thư nông nghiệp Việt Nam”. Tập 1 - Tổng quan Việt Nam. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (đang in).

152.Hỏi gì đáp nấy. Tập 7. Nhà xuất bản Trẻ, 2005.

153.Hỏi gì đáp nấy. Tập 8. Nhà xuất bản Trẻ, 2005.

154.Hỏi gì đáp nấy. Tập 9. Nhà xuất bản Trẻ, 2005.

155.Công nghệ nuôi trồng nấm ăn. Tập II, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2005.

156.Tự học nghề trồng nấm. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004.

157.Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số chủng vi khuẩn có hoạt tính kitinaz cao nhằm ứng dụng trong bảo vệ thực vật, Tạp chí Di truyền học và ứng dụng, chuyên san Công nghệ sinh học 2003-2004, Tr. 37-42, 2004 (cộng tác với Nguyễn Thị Anh Đào, Nguyễn Thu Trang, Nguyễn Thị Hoài Hà).

158.Nghiên cứu ứng dụng nấm men phân giải kenluloza trong xử lý bã dứa làm thức ăn chăn nuôi, Tạp chí Di truyền học và ứng dụng, chuyên san Công nghệ Sinh học 2003-2004, tr. 49-57 (cộng tác với Chu Thị Thanh Bình, Đào Thị Lượng, Hoàng Thị Hương).

159.Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số chủng vi khuẩn nốt sần phân lập tại Việt Nam có khả năng sinh chất kích thích sinh trưởng thực vật, tạp chí Di truyền học và ứng dụng, chuyên san Công nghệ sinh học 2003-2004, tr. 63-71, 2004 (cộng tác với Nguyễn Thị Kim Quy, Dương Giáng Hương, Nguyễn Thị Hoài Hà).

160.Phân lập, phân loại nấm dược liệu Vân Chi Trung Quốc và nghiên cứu hoạt tính kháng sinh, kháng các dòng tế bào ung thư của chúng khi lên men trong phòng thí nghiệm, Tạp chí Di truyền học và ứng dụng, Chuyên san Công nghệ sinh học 2003-2004, tr. 99-105, 2004 (cộng tác với Lê Thị Hoàng Yến, Dương Văn Hợp, Lê Mai Hương, Vũ Hữu Nghi).

161.Phân lập, phân loại và nghiên cứu điều kiện nuôi cấy, thử hoạt tính sinh dược học cảu chủng nấm Linh Chi, Tạp chí Di truyền học và ứng dụng, Chuyên san Công nghệ sinh học 2003-2004, tr. 106-113, 2004 (cộng tác với Lê Thị Hoàng Yến, Dương Văn Hợp, Lê Mai Hương, Vũ Hữu Nghi).

162.Laccase from the medicanal mushroom Agaricus balazei: production, purification and characterization, Appl. Microbiol. Biotechnol. (2005) 67: 357-363 (cộng tác với René Ullrich, Lê Mai Hương, Martin Hofrichter).

163.Hỏi gì đáp nấy. Tập 10. Nhà xuất bản Trẻ, 2006.

164.Hỏi gì đáp nấy. Tập 11. Nhà xuất bản Trẻ, 2006.

165.Hỏi gì đáp nấy. Tập 12. Nhà xuất bản Trẻ, 2006.

166.Tư liệu sinh học 10, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006 (cộng tác với Nguyễn Như Hiền, Vũ Văn Vụ).

167.Giúp nhau cùng làm giàu, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2006.

168.Sách hướng dẫn tự học Sinh học 10, Nhà xuất bản Trẻ, 2006, (cộng tác với Phạm Thành Hổ).

169.Thế giới Vi sinh vật, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2007 (Chủ biên, cộng tác với Phạm Văn Ty, Dương Văn Hợp, Nguyễn Liên Hoa, Đinh Thuý Hằng, Đào Thị Lương, Nguyễn Thị Hoài Hà, Lê Thị Hoàng Yến, Nguyễn Kim Nữ Thảo).

170.Nghiên cứu khả năng sinh tổng hợp axit indol axetic của chủng vi khuẩn Rhizobium sp.3.4, Tạp chí Sinh học, Tập 28, số 1, 3-2006, tr.92-95 (cộng tác với Dương Giáng Hương)

171. Hỏi gì đáp nấy. Tập 13. Nhà xuất bản Trẻ, 2007

172. Hỏi gì đáp nấy. Tập 14. Nhà xuất bản Trẻ, 2007

174. Hỏi gì đáp nấy. Tập 15. Nhà xuất bản Trẻ, 2007

Đọc thêm!

nguyễn lân

NGND Nguyễn Lân

nguyễn lân dũng

Cha tôi - NGND Nguyễn Lân-sinh ra từ một làng quê nghèo. Trong cuốn Hồi ký (xuất bản năm 1998) cha tôi kể rằng: “Nhà rất nghèo lại không có ruộng đất gì trong một miền bạc điền, thường xuyên bị hạn hán, bố mẹ mất sớm, bốn anh em nheo nhóc, bố tôi đành phải bỏ làng ra đi tha phương cầu thực”...

Cha tôi may mắn được một người anh họ, vì nhận thấy tư chất cậu bé Lân thông minh và hiếu học, nên dù chỉ là thư ký ở Sở Xi măng, nhưng ông đã cố gắng đỡ đầu và đưa ra Hải Phòng nuôi cho ăn học. Đó là cơ hội quí giá giúp cha tôi vươn lên trong con đường học vấn. Về sau khi thi vào trường Bưởi, nhờ học giỏi, cha tôi đã nhận được học bổng toàn phần. Năm 1925 khi mới 19 tuổi và đang còn là học sinh trung học, cha chúng tôi đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Cậu bé nhà quê. Đó là một phần tự truyện về thời thơ ấu của cha tôi. Nhà văn Nguyễn Khải đánh giá: Cha tôi là một trong những người đầu tiên viết tiểu thuyết ở Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết này về sau được dịch sang tiếng Pháp và đến năm 1934 được xác định dùng làm sách giáo khoa cho học sinh. Cha tôi tốt nghiệp thủ khoa trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương năm 1932. Từ đó cha tôi gắn bó suốt đời với sự nghiệp trồng người và sự nghiệp nghiên cứu khoa học.

“Cậu bé nhà quê” thời đó về sau đã trở thành một nhà giáo nổi tiếng có công đào tạo rất nhiều thế hệ học sinh, trở thành một nhà quản lý giáo dục trong nhiều năm, trở thành một nhà nghiên cứu với 42 cuốn sách đã xuất bản, trong đó có nhiều cuốn Từ điển (viết riêng hoặc viết chung) mà xã hội có nhu cầu tái bản nhiều lần, trở thành một nhà hoạt động xã hội góp phần quan trọng trong sự nghiệp vận động trí thức trong khối đại đoàn kết toàn dân.

Chúng tôi còn nhớ rõ trong thời gian kháng chiến chống Pháp cha tôi làm nhiệm vụ quản lý giáo dục ở Liên khu X và sau đó là ở Liên khu Việt Bắc. Với số lương tính bằng thóc hết sức ít ỏi cha tôi chi có thể trích một phần rất nhỏ để tự mình rong ruổi bằng xe đạp đến khắp các tỉnh trên Việt Bắc nhằm chỉ đạo việc phát triển giáo dục trung tiểu học. Cha tôi còn tự viết sách giáo khoa Ngữ pháp Việt Nam cho các cấp học, tự biên soạn Từ điển Muốn đúng chính tả để dùng cho thày trò các trường, tự soạn lấy đề thi trên cơ sở các đề do các trường gửi về rồi tự tay đánh máy và niêm phong các đề thi này... Có thể nói trong khói lửa chiến tranh và vượt qua muôn ngàn khó khăn cha tôi đã dốc hết tâm lực xây dựng ngành giáo dục phổ thông trong địa bàn rộng lớn được giao phó và đã đạt kết quả rất tốt. Niềm vinh dự to lớn mà cha tôi được tiếp nhận đó là thư khen của Bác Hồ với lời khen về Một Giám đốc có tài cùng với một bộ quần áo lụa màu nâu gụ bên trong có thêu dòng chữ Chúng cháu kính dâng Bác Hồ. Những phần thưởng cao quý này cha tôi đã trao tặng lại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trước khi nghỉ hưu.

Cho đến gần cuối đời cha tôi luôn rất khoẻ mạnh nhờ nghiêm túc và điều độ trong sinh hoạt, không hề uống rượu, hút thuốc, tự nghĩ cho mình một bài tập thể dục và không sáng nào không thực hiện bài tập ấy, sau đó tắm nước lạnh, kể cả những tháng lạnh giá nhất của mùa đông.

Cách đây 13 năm, trước nỗi đau mất mẹ tôi và chị Tề Chỉnh , chúng tôi tưởng chừng cha không thể gượng dậy được.

May mắn thay, cuốn Từ điển từ và ngữ Việt Nam, một công trình mà cha tôi đã nung nấu từ lâu đã giữ được cụ ở lại với đàn con. Tình yêu và nghị lực đã giúp cụ hoàn thành cuốn Từ điển dày dặn này. Sau nhiều năm một mình âm thầm chuẩn bị, cha tôi bắt đầu đặt bút viết vào tuổi 90 để 5 năm sau, ở tuổi 95, cụ đã hoàn thành bộ Từ điển đồ sộ với 2.200 trang in, gần đây lại đã được tái bản với số lượng lớn, không chỉ chúng tôi mà nhiều người cũng nhận thấy luôn luôn cần phải cuốn từ điển ấy bên mình. Năm ấy chúng tôi xin phép được làm Lễ mừng thọ cha 95 tuổi nhưng cụ hẹn rằng hãy đợi đến khi tròn 100 tuổi. Chúng tôi vẫn tin rằng cụ dư sức vượt qua ngưỡng tuổi 100. Bởi vì cho đến cách khi mất trên một năm cụ vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh. Hơn nửa thế kỷ liền cụ đã tạo riêng cho mình và thực hiện đều đặn một bài tập kéo dài 2 giờ mỗi buổi sáng để tự rèn luyện thể lực và trí lực. Không có sự rèn luyện khoa học và kiên trì như vậy thì làm sao một “cậu bé nhà quê”, là con của một bà mẹ nghèo, vốn sinh ra rất yếu ớt lại có thể sống khoẻ mạnh, không có bệnh tật gì cho đến gần 100 tuổi. Cụ vẫn thường vui vẻ nói: “Tôi có hai điều hạnh phúc lớn. Một là, các con đều ngoan và có ích cho xã hội; Hai là, cho đến nay tôi vẫn không có bệnh tật gì”.

Nhưng bệnh ung thư tai ác nào có từ ai! Cụ đã phải vĩnh viễn xa lìa gia đình, các bạn bè và biết bao học trò yêu quý. Mặc dầu đã được tập thể các GS, BS, và nhân viên y tế của hai Bệnh viện Việt - Đức và Bạch Mai hết lòng chăm sóc, cứu chữa nhưng sự nghiệt ngã của căn bệnh hiểm nghèo đã cướp đi sinh mệnh của cha chúng tôi.

Vào lúc 13 giờ 43 phút ngày 7 tháng 8 năm 2003 (tức ngày 10 tháng Bảy năm Quý Mùi) cha chúng tôi đã ra đi thanh thản và nhẹ nhàng, nhưng để lại một khoảng trống quá lớn trong lòng mỗi chúng tôi, một khoảng trống không gì có thể bù đắp nổi.

Sau hôm cha tôi từ trần chúng tôi đã nhận được sự quan tâm thăm hỏi và động viên quý báu của các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan, đoàn thể, của biết bao học trò cũ của cụ, của họ hàng, các thông gia và của cả rất đông đảo bạn bè. Sự có mặt của hàng nghìn người đến đưa tiễn cha tôi hôm tang lễ không chỉ là sự chia sẻ với chúng tôi nỗi đau to lớn này mà còn chứng tỏ mọi người vô cùng tiếc thương một con người đức độ, trung thực, đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp Trồng người và có những công hiến đáng kể cho khoa học, văn học và hoạt động xã hội.

Cha tôi sẽ mãi mãi yên nghỉ ngay cạnh mẹ của chúng tôi, người mà cha tôi suốt đời hết mực thủy chung, suốt đời yêu thương, suốt đời chia sẻ ngọt bùi, người đã chung sức cùng cha tôi động viên, giáo dục cả một đàn con cháu đông đúc.

Căn buồng nhỏ của cụ ở Khu tập thể Kim Liên với một chiếc giường đơn, một tủ sách, một bàn viết nhỏ mà trên đó cụ đã từng viết 18 tác phẩm và những bộ Từ điển đồ sộ từ hai năm nay đã vắng bóng cha tôi .

Nhưng cha tôi vẫn còn sống mãi trong tâm trí chúng tôi và biết bao thế hệ học trò, đồng nghiệp cùng đông đảo độc giả. Chúng tôi vô cùng tự hào về cái gia tài tinh thần mà cụ đã để lại cho muôn đời con cháu.

Đó là tấm gương về lòng tin, tin ở chính mình, tin ở sự nghiệp vẻ vang của dân tộc, tin ở lẽ phải, ở chính nghĩa, tin ở tất cả những người lương thiện sống quanh ta.

Đó là tấm gương về lòng hiếu học và ý chí phấn đấu học tập suốt đời để không ngừng làm giàu kiến thức cho mình và dùng kiến thức ấy để cống hiến cho sự nghiệp trồng người.

Đó là tấm lòng nhân ái, yêu đời, yêu người, vị tha, khoan dung dành cho những người sống quanh mình. Cha tôi luôn xót thương cho những số phận bất hạnh, luôn luôn cảm thông cho những lỗi lầm do ít kinh nghiệm hoặc thiếu kiến thức. Nhưng cụ lại là người hết sức bất bình với những hành vi tham lam, vị kỷ, dối trá, lừa lọc, vô đạo đức. Cụ căm ghét sự lợi dụng chức quyền, làm giàu bất chính, bắt nạt dân lành, dối trên lừa dưới.

Đó là tấm gương về nếp sống giản dị, tiết kiệm, không màng công danh, phú quý, không chuộng hình thức, luôn khiêm nhường và quý trọng sức lao động của người khác.

Tất cả vốn tài sản quý giá này của cha tôi sẽ là truyền thống tốt đẹp của gia đình . Các thế hệ chúng tôi sẽ xin ghi lòng tạc dạ và nhắc nhở nhau luôn luôn soi vào tấm gương của cha để học tập, rèn luyện, phấn đấu và hết lòng phục vụ nhân dân trên mỗi cương vị công tác của mình.

Hình ảnh trích từ quyển VINH QUANG NGHỀ THẦY , nhà xuất bản Giáo Dục nhân kỷ niệm về giáo sư, nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân 1906-2003, do Gs Nguyễn Lân Dũng tuyển chọn

Vietsciences

Hình nhân ngày kỷ niệm 100 năm ngày sinh của giáo sư Nguyễn Lân

Đọc thêm!

Trang