được sưu tầm bởi HXK

đây chỉ là những thông tin về những người mà tôi cho rằng họ giỏi, tôi khâm phục họ, tìm hiểu họ qua cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm cũng như tư tưởng của họ để lại trên thế gian này. cho những con người của thời đại họ sống và cho hậu thế.
Showing posts with label nguyên trần bạt. Show all posts
Showing posts with label nguyên trần bạt. Show all posts

Tuesday, June 29, 2010

Giới thiệu sách Cội nguồn cảm hứng Bùi Quang Minh Hanoi Software JSC


Càng biết nhiều về bản thân mình... chúng ta càng tự do. Đa số mọi người đều cảm nhận cảm tính rằng quyền tự do là quan trọng với bản thân, nhưng họ rất thiếu ý niệm cụ thể về tự do là gì và đa số nhầm lẫn tự do với vô chính phủ. Đến nay, còn rất nhiều người chưa đạt tới trình độ nhận thức rằng tự do là nền móng để họ trở thành Con Người, là trình độ làm người ở mức cao nhất. Do truyền thống, do mức muộn mằn tiếp cận khái niệm tự do, do tư duy ấu trĩ chưa được tự do soi rọi vào cuộc đời mình, mà số đông chúng ta không tự trau dồi về tự do, không phát hiện ra hiện tượng nào quanh ta tự do không được coi trọng, thiếu tự do. Cũng không thiếu người bị chà đạp lên tự do, mất quyền cơ bản của mình mà không mảy may nhận ra, phản ứng lại.

Những người đồng ý từ bỏ một chút tự do để tìm kiếm sự an toàn thì không xứng đáng được hưởng tự do và an toàn, và họ sẽ mất cả hai thứ đó...

(Benjamin Franklin)

Điều đó phản ánh chúng ta đang thiếu tư duy đúng về tự do, về nhân văn làm người, về chính cái hạt nhân của cuộc sống; và đó cũng chính là chúng ta đang sống mà thiếu giá trị tự do, chúng ta đang cần tìm về nó để thức tỉnh bản thân, phát huy mọi vai trò và giá trị cá nhân khác. Đó cũng là thực trạng chung biểu hiện sự hạn hẹp của văn hóa phương Đông trong việc hiểu biết sắc sảo giá trị nền tảng nhất của văn minh phương Tây - nay là văn minh toàn nhân loại.

Trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc đã nêu ngay trong phần đầu nội dung khẳng định đặt niềm tin các giá trị cơ bản nhất của con người, hỗ trợ cho sự tiến bộ xã hội để thiết lập nên những điều kiện tốt đẹp nhất cho sự tự do được mở rộng nhất:

"
Nhận thức rằng, việc thừa nhận phẩm giá vốn có của tất cả các thành viên gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước bỏ của họ, đã tạo dựng nên nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên thế giới.

Nhận thức rằng, việc chối từ và miệt thị những quyền con người đã dẫn đến những hành động man rợ, nó thách thức lương tâm nhân loại và sự đăng quang một thế giới, ở đấy, những thành viên nhân loại sẽ được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, thoát khỏi sự khủng bố và khốn cùng, đã được tôn xưng như nguyện vọng cao cả nhất của con người.

Nhận thức rằng, thật cần thiết những quyền con người phải được bảo vệ bởi một thể chế luật pháp, sao cho họ không phải bị ép buộc cầu viện đến cái tột cùng là sự nổi dậy chống lại chuyên chế và áp bức.

...

"
Càng khẳng định mình, càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị tự do, con người càng được thăng hoa, đạt đến hạnh phúc. Trong quá trình suy tưởng hiện thực xã hội, đi sâu vào nội tâm, nhiều người đã khám phá ra tự do như một giá trị Thượng đế ban cho để chúng ta có được nền móng trở thành con người. Sự khám phá ấy tạo nên cảm hứng, khát vọng và động lực hiện thực mọi tiềm năng phát triển của cá nhân, vươn lên đạt tới giá trị cao đẹp nhất cho bản thân. Một trong số đó là tác giả Nguyễn Trần Bạt, người đã thấm đẫm tinh thần tự do cao quý và đã dành nhiều thời gian và tinh thần để thức tỉnh, thấu hiểu, yêu quý giá trị tự do và chia sẻ tới bạn đọc. Quá trình khám phá tự do, cảm hứng về tự do, đi đến tự do được tác giả được đúc kết trong tác phẩm mới "Cội nguồn cảm hứng", NXB Hội Nhà văn, 11/2008. Cuốn sách hơn 400 trang này ông đã định đặt tên là “Tự do sinh ra con người”.

Sau Tuyên ngôn độc lập, với tôi, lâu lắm rồi, Việt Nam lại có một tác phẩm, một cuốn sách trọn vẹn, sâu sắc, cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật về Tự do, giá trị nhân văn, nhân quyền.

Có thể coi tác phẩm "Cội nguồn cảm hứng" là một sự cố gắng của tác giả gắn việc mô tả, tư duy về tự do và gắn vai trò của nó với chất lượng số phận mỗi người, với đánh giá chất lượng tổ chức của nhà nước. Trong tác phẩm hiếm có này, tác giả đã khẳng định hệ thống và nhất quán một xã hội có tính chất lượng cơ bản là phải giúp con người hình thành và khẳng định tất cả các quyền của cá nhân để họ có thể có bản lĩnh để hiểu, sống và đối phó, hoàn thiện cuộc sống bản thân. Theo tác giả, con người càng nhận thức được tự do càng phải cảm thấy mình có trách nhiệm hơn với mình, có trách nhiệm hơn với xã hội tự giác mà không để bị ai áp đặt, không a dua theo ai.

Cuốn sách "Cội nguồn cảm hứng" kén người đọc bởi nó lấp lánh nhiều tư tưởng triết học. Đó là một tác phẩm tuyệt vời, hoàn hảo, lôi cuốn bất cứ ai về Tự do, về khám bản bản chất của chính chúng ta và con đường để mỗi người, chúng ta, loài người trở nên sống tự do hơn, hạnh phúc hơn. Bởi vậy, tôi xin nhường bút để bạn đọc tìm đến cuốn sách, soi rọi cá nhân, xã hội mình với quan điểm, tư tưởng của nền văn minh nhân loại, với trình độ phát triển hiện đại của nhân loại.

Tác giả Nguyễn Trần Bạt đã ca những lời ca với tình yêu tự do của mình. Đó cũng là cách thức thể hiện mức tự do cao nhất của người trí thức - ở hình thức nghệ thuật, thâm thúy. Tôi tin rằng lời ca đó sẽ tiếp tục thổi bùng lên "Cội nguồn cảm hứng" của mọi người Việt chúng ta như tinh thần bất khuất của Nelson Mandela, một biểu tượng văn hóa của tự do và bình đẳng nhân loại: "Sự chiến đấu là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì tự do cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời tôi Đọc thêm!

Phong cách lãnh đạo độc đáo của Hồ Chí Minh

Nguyễn Trần Bạt
Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group

Hồ Chí Minh là một nhà chính trị kiệt xuất, có những giá trị vượt thời gian và quan trọng hơn là có giá trị đương đại. Ông là một nhà chính trị có những địa vị không thể nào so sánh được, có những giá trị không thể nào nhầm lẫn được. Giá trị chính trị, phong cách lãnh đạo, tài năng chính trị của ông bộc lộ trong hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đang có những cuộc chiến tranh giải phóng dài nhất thế giới và những cuộc đụng độ với các đối tượng lớn nhất thế giới.

1. Tài năng tổ chức ra tâm lý thời bình ngay cả trong thời chiến

Một trong các giá trị quan trọng nhất tạo ra tính không thể nhầm lẫn đó là tài năng tổ chức ra tâm lý thời bình ngay cả trong thời chiến.

Khi Johnson đưa nửa triệu quân Mỹ sang Việt Nam và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Hồ Chí Minh đã đưa ra một thông điệp cứu quốc trong đó có đoạn: "Này Tổng thống Johnson, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ..." Hồ Chí Minh gọi tên kẻ thù mà như không có sự phân biệt nào cả. Tôi nghe không chỉ ngôn từ mà cả lời nói của Hồ Chí Minh và nhận thấy sự khôn ngoan và phải chăng chính trị của ông, sự phải chăng không đạt đến được đối với những người khác. Hay trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến giọng điệu của Hồ Chí Minh vẫn rất hoà bình: "Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Lời tuyên chiến ấy giống như phản ứng của một con người đang cày dở thửa ruộng, đang dở dang một công việc rất thông thường của đời sống con người, tức là ông không dập tắt tâm lý hoà bình ngay cả khi viết lời tuyên chiến. Hồ Chí Minh đủ tầm nhìn để hình dung ra kết cục của cuộc kháng chiến từ khi nó chưa kết thúc. "Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc..." Ông xếp súng, gươm, cuốc, thuổng, gậy gộc với nhau tức là xếp những công cụ lao động hòa bình cùng với các công cụ chiến tranh hiện đại, làm cho ngôn ngữ chiến tranh dù rất mạnh mẽ, thôi thúc nhưng giọng điệu lại rất hòa bình. Đấy chính là thiên tài. Một con người trong tâm tưởng phải hình dung ra kết cục của cuộc chiến tranh khi nó chưa kết thúc thì mới có đủ trí tuệ để tổ chức ra tâm lý hoà bình. Và đó chính là tầm nhìn chính trị, là sự trung dung vĩ đại của Hồ Chí Minh.

Có một thời trong chiến tranh chúng ta cấm hát những bài hát về tình yêu vì sợ ảnh hưởng đến tâm lý nhất quán của chiến tranh mà không hiểu rằng đó là những nhu cầu tinh thần không thể thiếu của con người. Người ta quên mất rằng nếu những nhu cầu tinh thần như vậy bị tiêu diệt thì con người chỉ còn tình yêu đối với chiến tranh. Vậy chiến tranh kết thúc thì con người sẽ quay về cuộc sống bình thường như thế nào khi con người đã đánh mất các giá trị tinh thần đối với đời sống bình thường ấy? Hơn ai hết, nhà lãnh đạo, nhà chính trị là người cần phải biết chăm sóc những giá trị hòa bình của con người để dẫn dắt con người đi qua một cuộc chiến tranh mà vẫn còn là con người. Hồ Chí Minh nhìn thấy con người trong chiến tranh, sau chiến tranh và hình dung cuộc sống một cách liên tục. Tầm nhìn con người và tầm nhìn chính trị hợp nhất với nhau tạo ra giá trị có ý nghĩa thời đại của Hồ Chí Minh. Nếu nhận thức được điều ấy thì chúng ta sẽ hiểu tại sao Hồ Chí Minh ngay cả sau khi mất vẫn tiếp tục có giá trị.

Nếu không nghiên cứu Hồ Chí Minh bằng tâm hồn của con người Hồ Chí Minh mà bằng tâm hồn chiến tranh thì không thể tìm ra giá trị Hồ Chí Minh đích thực được. Tài năng tổ chức tâm lý thời bình ngay cả trong thời chiến thể hiện sâu sắc sự phải chăng chính trị hay sự đa dạng của đời sống tinh thần Hồ Chí Minh. Sở dĩ Hồ Chí Minh có được tài năng ấy là do ông tuân thủ phép biện chứng về sự đa dạng của đời sống tinh thần con người. Có thể nói, giá trị chính trị sau khi chết của Hồ Chí Minh là tầm nhìn chính trị của Hồ Chí Minh về thân phận của con người, về cơ cấu tâm lý của con người, về phép biện chứng tâm hồn của con người. Chúng ta còn thấy cả điều này trong chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh.

2. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh

Chủ nghĩa yêu nước cũng là một giá trị của Hồ Chí Minh, nó không chỉ là một giá trị nhân văn mà còn là một giá trị chính trị. Thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám và của cả mấy cuộc chiến tranh trong nửa thế kỷ XX ở Việt Nam chính là kết quả của chủ nghĩa yêu nước mà Hồ Chí Minh là đại diện tiêu biểu. Có thể nói, giá trị yêu nước là một trong các giá trị quan trọng nhất và phổ biến nhất của Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Marx đem lại cho Hồ Chí Minh khả năng thành công lớn nhất chứ không phải khả năng thành công duy nhất. Hồ Chí Minh thành công là nhờ lý tưởng yêu nước của mình cùng với nhận thức đúng đắn về độc lập, tự do, tiếp nữa là biết huy động sức mạnh của cả dân tộc bằng sự phải chăng chính trị của mình.

Chúng ta có nhiều nhà chính trị yêu nước hay nói cách khác chủ nghĩa yêu nước không phải là độc quyền của Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh trở thành nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là bởi vì ông là nhà chính trị thành công nhất ở Việt Nam. Phần lớn những phẩm chất trong các giá trị được gọi là thiên tài của Hồ Chí Minh là kết quả của sự chung thủy với các sứ mệnh chứ không phải là sự kiên nhẫn thông thường. Hồ Chí Minh là người có mục tiêu chính trị rõ ràng và suốt cả cuộc đời ông đi tìm mục tiêu ấy. "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Đối với Hồ Chí Minh, nhân dân là tất cả nội dung cuộc sống của ông, nội dung chính trị của ông. Nhiều người cho rằng Hồ Chí Minh là một nhà dân tộc chủ nghĩa vì ông luôn luôn đặt giải phóng dân tộc lên nhiệm vụ hàng đầu. Một nhà dân tộc chủ nghĩa có thể là người không phải chăng về chính trị, một người dân tộc chủ nghĩa có thể không phải là một người có trình độ văn hoá và sự phát triển văn hoá cao, nhưng Hồ Chí Minh lại là người có trình độ văn hoá phát triển ở mức rất cao. Hồ Chí Minh là một người yêu nước chủ nghĩa chứ không thuần túy là một nhà dân tộc chủ nghĩa. Hồ Chí Minh tôn thờ độc lập dân tộc chứ không phải tôn thờ dân tộc bởi vì hơn ai hết, Hồ Chí Minh biết rõ những nhược điểm của dân tộc mình. Một kẻ dân tộc chủ nghĩa thì chỉ nhìn thấy dân tộc của mình còn người yêu nước là một người nhìn thấy dân tộc của mình trong mối tương quan với những dân tộc khác. Vì theo chủ nghĩa yêu nước cho nên Hồ Chí Minh không trở thành một người theo chủ nghĩa Marxist cực đoan được. Ở đây ranh giới giữa yêu nước chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa cũng phản ánh sự phải chăng chính trị của Hồ Chí Minh. Sự phải chăng chính trị đã ngăn con người Hồ Chí Minh không trở thành một người cộng sản cực đoan hay một người dân tộc chủ nghĩa cực đoan và bảo tồn nguyên vẹn tính đa dạng tinh thần của Hồ Chí Minh.

Chúng ta vẫn nói về việc Hồ Chí Minh kêu gọi đoàn kết nhưng dường như không mấy ai nghiên cứu xem ông làm thế nào để kêu gọi đoàn kết. Hồ Chí Minh kêu gọi đoàn kết bằng sự phải chăng chính trị của mình chứ không chỉ thuần túy xem đoàn kết là quan trọng. Theo tôi, nhận định rằng Hồ Chí Minh tổ chức đoàn kết chính trị bằng sự phải chăng của các phương pháp chính trị là một phát hiện lý luận quan trọng trong lịch sử chính trị hiện đại Việt Nam. Hồ Chí Minh có lẽ là người hiểu rõ nhất nguyên nhân thành công của Cách mạng tháng Tám là do sự có mặt của cơ cấu lực lượng đông đảo và đa dạng với rất nhiều trường phái, phong cách và mức độ tự giác về chính trị. Cơ sở của chủ nghĩa đoàn kết Hồ Chí Minh chính là tính phải chăng chính trị của ông. Sự phải chăng chính trị ấy thể hiện ở chỗ ông chiếu cố tất cả các lực lượng, các lợi ích, ông tôn trọng tính đa dạng tinh thần của đời sống chính trị. Cách tiếp cận này mang tính bản năng nhưng có giá trị khoa học bởi trên thực tế nó xúc tiến được sự đồng thuận. Đối với Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc là để phấn đấu vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, tức là đoàn kết có mục đích, đoàn kết cho các mục tiêu cụ thể. Điều này giải thích sự hẫp dẫn của Hồ Chí Minh với tất cả các lực lượng, các tầng lớp trong xã hội và tạo ra sự thành công của nhà chính trị Hồ Chí Minh.


Hoàng Trù, quê ngoại Hồ Chí Minh

3. Giá trị nhận thức về tự do, dân chủ

Một giá trị chính trị quan trọng nữa của Hồ Chí Minh là giá trị nhận thức về tự do, dân chủ. Hồ Chí Minh là người dịch chuyển nhiều, ông tắm trong các nền văn hóa khác nhau, tắm trong những dòng nước khác nhau của đời sống con người, đặc biệt là tiếp thu tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn Pháp nên Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc giá trị của tự do, dân chủ. Ông hiểu rất rõ giá trị của con người và chính vì thế trong ông luôn có khát vọng về nhân quyền. Hồ Chí Minh là nhà chính trị duy nhất và sớm nhất ở Việt Nam nói về nhân quyền "Con người sinh ra ai cũng có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc..." Đó là nhà chính trị đầu tiên trong lịch sử chính trị của dân tộc chúng ta nói về nhân quyền một cách công khai, rõ ràng trong tuyên ngôn độc lập do chính ông soạn thảo.

Hồ Chí Minh khi viết "Tuyên ngôn độc lập" đã hình dung rất rõ ràng nội dung của độc lập và tự do. Không có sự hình dung mập mờ về độc lập, tự do trong nhận thức của Hồ Chí Minh, trong cảm nhận tinh thần của Hồ Chí Minh. Trong mỗi con người đều có cái gọi là tinh thần dân tộc, danh dự dân tộc cho nên ai cũng có khát vọng độc lập dân tộc. Con người mất nước thì con người đi tìm độc lập dân tộc, tìm độc lập dân tộc thực chất là tìm tự do cho dân tộc. Trong khái niệm độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh luôn bao hàm cả khái niệm tự do, tự do cho dân tộc của mình, cho nhân dân của mình. Điều đó có nghĩa là nếu kết quả của cách mạng là mang về một gói tự do cho dân tộc thì cần phải chia gói tự do ấy, phải phân phối gói tự do ấy cho từng con người, phải biến tự do ấy trở thành quyền con người. Độc lập dân tộc là quyền của các dân tộc mà dân tộc đã tự do thì con người phải tự do, con người phải được hưởng cả cái tự do công cộng và cái tự do riêng. Một con người sống trong một cộng đồng độc lập thì con người ấy phải có hạnh phúc. Hạnh phúc của mỗi người tạo ra hạnh phúc của dân tộc. Hơn ai hết Hồ Chí Minh là người thấu hiểu điều đó. Nhiều người không hiểu rằng nỗi bức xúc của ông về độc lập dân tộc không phải là sự sĩ diện của công dân một nước không có độc lập, mà là sự bức xúc của một con người khi thấy dân tộc mình bị cùm kẹp và nhân dân mình thiếu tự do. Hai trạng thái tâm lý đó rất khác nhau. Bởi nếu như ông không có khát vọng tự do cho con người mà chỉ có khát vọng độc lập dân tộc thì ông sẽ làm vua. Ông sẽ được hoan nghênh hơn nhiều bởi các đế quốc nếu ông làm vua, nhưng ông đã không làm như thế vì khát vọng tự do con người, cho dân tộc của ông lớn hơn. Trong cương lĩnh chính trị của mình, Hồ Chí Minh phấn đấu vì một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc". Hồ Chí Minh đã trở thành một người cộng sản bởi vì vào giai đoạn ấy trạng thái chính trị của thế giới hỗ trợ những người cộng sản.

Như vậy, cuộc cách mạng của Hồ Chí Minh là cuộc cách mạng về con người, trong đó độc lập dân tộc chỉ là một chặng. "Nếu độc lập mà không đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân thì độc lập ấy cũng không có ý nghĩa gì". Hồ Chí Minh trở thành một thủ lĩnh của phong trào giải phóng dân tộc thế giới bởi vì ở trong ông có sự cảm thông với thân phận con người, với sự mất nước hay mất tự do của con người. Hồ Chí Minh hiểu rằng tự do là nguồn sống của con người. Nếu là một nhà dân tộc chủ nghĩa thì Hồ Chí Minh chỉ nghĩ đến Việt Nam và nếu là một người chỉ nghĩ đến sự nghèo khổ của con người thì ông chỉ trở thành một thủ lĩnh của giai cấp vô sản thế giới. Ngay cả với những dân tộc không được lãnh đạo bởi chủ nghĩa cộng sản thì Hồ Chí Minh cũng trở thành tấm gương. Đóng góp của Hồ Chí Minh là sự đóng góp tinh thần vô giá đối với tiến trình phát triển chính trị thế giới thông qua việc khích lệ sự đòi độc lập dân tộc. Càng ngày, thế giới càng hiểu ra rằng họ đã may mắn như thế nào khi thoát khỏi chủ nghĩa thực dân. Ngay cả các nước thực dân, các nước đế quốc cũng thấy rằng họ đã có cơ may thoát ra khỏi chủ nghĩa thực dân như thế nào để trở về nguyên trạng là các quốc gia lương thiện, và họ càng hiểu được giá trị của Hồ Chí Minh, càng cảm ơn những con người như Hồ Chí Minh. Khích lệ nhu cầu tự do của con người là một trong những khích lệ nhân văn nhất. Ai ngăn cản tự do, từ chối tạo điều kiện để con người tự do, từ chối hỗ trợ con người hình thành khát vọng tự do thì đó là kẻ chống lại con người.

Một trong những cái vĩ đại của Hồ Chí Minh là ông không định làm cho mình giống với nhân dân. Ông là người tiên phong trong việc làm cho mình giống với lý tưởng về một người lãnh tụ nhân dân, tức là, ông trở thành vẻ đẹp lý tưởng của nhân dân chứ không phải nhân dân. Đấy là cái khôn ngoan, cái tinh khôn của Hồ Chí Minh mà hầu như các thế hệ sau không phát hiện ra. Khi xem các bộ phim tài liệu về Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ông đi dọc đường, ông tắm, rồi ông vác cái sào trên vai để phơi áo... Những hình ảnh đó thật đẹp và lúc nào cũng gây ra sự xúc động ở người xem. Một con người thênh thang giữa trời, giữa đất, tự do mà gần gũi biết bao. Trong phong thái Hồ Chí Minh vừa có chất lượng của một nghệ sỹ, vừa có chất lượng của tự do. Đó không phải là tự do của một người thông thường mà là tự do của một người nghệ sỹ. Đối với người nông dân, người lao động Việt Nam thì thái độ tự do ấy là một trong những vẻ đẹp vĩ đại nhất mà họ tôn thờ. Chưa có ai hiểu nhân dân và tự tạo mình thành hình ảnh, thành lý tưởng của nhân dân một cách vừa hấp dẫn, vừa khôn ngoan như Hồ Chí Minh. Ông mặc chiếc áo bà ba rất Việt Nam, nhưng tác phong của ông cùng với điếu thuốc lá trên tay và chiếc khăn len Pháp buộc ở cổ thì như là thủ lĩnh của một nước phương Tây. Hồ Chí Minh đã hiện đại hoá các vẻ đẹp chính trị của mình trở thành hình mẫu về lý tưởng, về thẩm mỹ con người của nhân dân.

Hồ Chí Minh đã mất từ cách đây gần 40 năm nhưng rõ ràng chúng ta vẫn thấy ông hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam. Đó là sự tồn tại không phải của con người Hồ Chí Minh mà là tinh thần Hồ Chí Minh hay là tinh thần tự do Hồ Chí Minh. Mỗi một lúc chúng ta nói, chúng ta hành động, bỗng nhiên chúng ta lại nhớ đến Hồ Chí Minh bởi đấy là sự bất tử của tinh thần Hồ Chí Minh. Tinh thần Hồ Chí Minh vẫn đang hiện hữu trong các quy tắc hành xử của con người bởi vì con người còn tồn tại dưới dạng các giá trị văn hóa nữa. Con người Hồ Chí Minh với tư cách là một thực thể vật lý thì không còn nhưng con người Hồ Chí Minh với tư cách là các giá trị tinh thần được cô lại dưới hình thức của những giá trị văn hóa thì vẫn có sức sống mãnh liệt. Đấy là sự vĩ đại của Hồ Chí Minh.

Đọc thêm!

Hồ Chí Minh - cuộc đời như một thông điệp

Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group

Báo Diễn đàn Doanh nghiệp, Số ra ngày 14/5/2002


Những giá trị tinh thần to lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc là không ai có thể phủ nhận, nhưng cách thức mà chúng ta đang sử dụng để đánh giá, nghiên cứu và học tập những giá trị tinh thần ấy lại rất đáng lo ngại. Không chỉ trong sinh hoạt hàng ngày, mà cả trên không ít phương tiện tuyên truyền, người ta đang vô tình hay hữu ý tìm cách áp đặt vào sự nghiệp của Hồ Chí Minh những điều xa lạ với chính Người.

Những giá trị cơ bản của Hồ Chí Minh chính là giá trị hành vi. Tôi nghĩ rằng những giá trị tinh thần của Hồ Chí Minh cần phải được nghiên cứu thực sự, và từ đó soi rọi nền văn hoá chính trị Việt Nam.

Nói đến Hồ Chí Minh là phải nói đến Đảng Cộng Sản Việt Nam. Theo tôi, Đảng Cộng sản Việt Nam là khối đầu óc của nhân dân, chứ không phải là những thành tựu chính trị, cho dù những thành tựu chính trị đó là có thật và trong đó bao giờ Hồ Chí Minh cũng đóng vai trò hình mẫu, cả với tư cách một nhà hoạt động chính trị lẫn vai trò người đại diện dân tộc... Tại sao người ta phân biệt bộ đội Cụ Hồ với những người lính khác? Và anh bộ đội Cụ Hồ cũng khác nhau ở hai giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ. Người bộ đội Cụ Hồ được xem xét thông qua lăng kính Hồ Chí Minh: người ta nhìn, người ta gắn lên anh bộ đội hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu như chúng ta chỉ dừng lại nghiên cứu những bài viết, giải pháp hay những lập luận của Bác Hồ và kết luận rằng đấy là tư tưởng Hồ Chí Minh thì chúng ta đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Cần phải nghiên cứu các giá trị văn hoá của Hồ Chí Minh chứ không phải là những bài viết hay câu nói cụ thể. Và các giá trị văn hoá ấy được thể hiện khi rõ ràng, khi kín đáo, nhưng thật là tinh tế. Hồ Chí Minh mặc áo Tôn Trung Sơn, chẳng hạn, không phải tình cờ mà là vì nhu cầu chính trị lúc bấy giờ...

Mỗi hành vi của Hồ Chí Minh là một thông điệp, nói theo cách của Gandhi, "my life is my message". Thật là một cách diễn đạt tài tình. Nhưng chính vì mỗi hành vi của nhà chính trị đều là một thông điệp, nhà chính trị cần phải có các tiêu chuẩn văn hoá trong hành động, trong hành vi. Nếu nhà chính trị không rèn luyện mình để mỗi hành vi của mình là một thông điệp thì đó là một nhà chính trị xoàng. Chúng ta nhớ rằng trong những năm dài kháng chiến, các đồng chí trong Bộ chính trị, các bộ trưởng đi đến đâu cũng được nhân dân yêu quí, sùng bái. Nhân dân kể chuyện về các nhà chính trị bên cạnh Hồ Chí Minh, nhân dân thêu dệt những huyền thoại về họ, dù chưa đủ trình độ và cũng không có tư liệu để có thể hiểu những tư tưởng, những lý luận của Hồ Chí Minh. Ở đây chẳng có gì thần bí, nhân dân hiểu giá trị của Bác Hồ thông qua hành vi, nhân dân yêu Đảng, yêu bộ đội Cụ Hồ cũng vì nhân dân nhìn hành vi. Văn hoá hành vi là bộ phận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Là một nhà chính trị kiệt xuất, nhưng Hồ Chí Minh chưa bao giờ xuất hiện ở Việt Nam như một nhà chính trị.

Tất cả những người Việt Nam được tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều hâm mộ Người. Vì sao? Vì Hồ Chí Minh là người không lạm dụng, một người nhân ái và cũng là người dũng cảm. Hãy thử nhớ lại vẻ ung dung của Người khi xuống tàu đối đầu với tướng D'Argenlieu, cũng tức là với quân đội Pháp. Những hành vi như thế hấp dẫn toàn nhân loại. Hiểu được điều đó chúng ta sẽ thấy rằng việc diễn dịch tư tưởng Hồ Chí Minh một cách máy móc, giống như cách người ta gỡ từng sợi vải ra khỏi một mảnh vải thổ cẩm được dệt nên một cách tinh xảo từ những nguyên liệu mang bản sắc dân tộc và tinh hoa của nhân loại, sẽ là một sai lầm, thậm chí là một hành động xúc phạm đến Hồ Chí Minh. Trong cuộc đời kỳ lạ của mình, Bác đã thể hiện một cách trọn vẹn nhất, tổng hợp nhất tư tưởng của mình qua việc luôn luôn đưa ra các giải pháp chính trị mềm dẻo và hữu hiệu, với một phong thái ung dung, nhẹ nhàng và giản dị như chính cách Người ăn mặc, đi lại, nói năng. Ở Hồ Chí Minh chúng ta nhận thấy sự kết hợp hài hoà của đạo đức con người, đạo đức cách mạng với chủ nghĩa cộng sản, qua đó Người đưa ra những tiêu chí của đạo đức như là yếu tố cơ bản của một nhà chính trị của nhân dân. Không phải vô cớ mà mỗi khi nói đến Hồ Chí Minh người ta thường liên tưởng, và hoàn toàn có lý, đến những vĩ nhân đại diện cho nhân dân như Gandhi, như Nerhu...

Vì thế, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải và không thể là việc bổ sung tư tưởng của Người bằng các cương lĩnh chính trị, hay bằng những công trình nghiên cứu rắc rối và vô nghĩa. Cần phải thấy rằng Đảng của Bác Hồ, quân đội của Bác Hồ, cũng giống như chính nền độc lập dân tộc mà chúng ta đang có, là những giá trị của lịch sử chính trị. Sử dụng một cách sai lạc và lãng phí những giá trị này là sai lầm, thậm chí là có tội. Cần phải hiểu bảo vệ Đảng như là bảo vệ quyền lợi dân tộc, thống nhất hai sự bảo vệ này chính là hoà giải dân tộc.

Không nghi ngờ gì nữa, tất cả sự vĩ đại của Hồ Chí Minh là văn hoá. Đó chính là tiền đề để chúng ta nghiên cứu, xây dựng cái gọi là nền văn hoá chính trị. Nền văn hoá chính trị bao giờ cũng phải được xây dựng trên những tiêu chuẩn rất căn bản và phổ biến của con người. Trong một bài viết của mình, tôi đã nói rằng văn hoá là hoà bình bởi văn hoá là kết quả của sự chung sống. Hồ Chí Minh là người khởi xướng và xây dựng nên nền văn hoá hiện đại Việt Nam, đã để cả cuộc đời để xây dựng những tiêu chuẩn văn hoá, chính trị, hệ tư tưởng và cảnh báo nguy cơ của sự suy thoái các giá trị đạo đức. Tầm nhìn Hồ Chí Minh không bao giờ luẩn quẩn trong việc xác định kẻ địch mà tập trung chủ yếu vào việc dự báo các suy thoái của đời sống đạo đức chính trị. Nghiên cứu về Hồ Chí Minh sẽ càng chứng minh cho điều đó. Nó sẽ giúp chúng ta phổ biến các giá trị đạo đức, các giá trị văn hoá hành vi của Hồ Chí Minh. Có thể nói không quá lời rằng chúng ta cần phải triệt để Hồ Chí Minh hoá Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nói về Hồ Chí Minh cũng không thể không nói về chủ nghĩa yêu nước mà Người là một hiện thân rực rỡ. Muốn xây dựng dân tộc, chúng ta không thể không xây dựng chủ nghĩa yêu nước. Nhiệm vụ cấp bách của chúng ta là làm trong sạch Đảng và khôi phục hình ảnh của Đảng Cộng Sản, Đảng Hồ Chí Minh, trong tâm trí và tình cảm của nhân dân. Hồ Chí Minh không bao giờ nói một cách công khai về nguy cơ này hay nguy cơ kia, nhưng Người nhiều lần cảnh báo về nguy cơ suy thoái chính trị của Đảng cầm quyền, điều mà Người nhận thức một cách sâu xa như là nguy cơ nghiêm trọng nhất.

Hồ Chí Minh là nhà chính trị hiếm hoi đã làm việc ở cương vị cao nhất không nhiệm kỳ và không hề suy thoái chính trị cho đến hơi thở cuối cùng. Cuộc đời Người, những giá trị tinh thần bất tử của Người là tài sản vô giá của dân tộc. Đó không chỉ là một chân trời bao la cho các công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc mà còn cho chúng ta những bài học bổ ích trong việc củng cố nền văn hoá chính trị Việt Nam.

Đọc thêm!

nguyên trần bạt

NGUYỄN TRẦN BẠT (sinh 1946)

- Sinh tại Hưng Nguyên, Nghệ An
- Năm 10 tuổi, cùng cha ra Hà Nội sinh sống.
- Trong khoảng thời gian tham gia quân đội, từ 1963 đến 1975, có xuất ngũ theo học trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Tốt nghiệp kỹ sư xây dựng dân dụng (1973), ông tiếp tục phục vụ quân đội cho đến khi giải phóng miền Nam.
- Năm 1976-1984, ông công tác tại Bộ Giao thông Vận tải
- Năm 1985-1988, ông công tác tại Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.
- Ông là cử nhân luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Năm 1989, ông thành lập công ty Tư vấn và chuyển giao công nghệ InvestConsult Group và làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty cho đến nay.
- Năm 1995, ông tốt nhiệp khoa Luật trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Hiện nay, ông là Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ Việt Nam, thành viên của Hội Luật gia Việt nam, Hiệp hội Luật sư Sáng chế Châu Á (APAA) và Hiệp hội Nhãn hàng Quốc tế (INTA).
- Ông Bạt được coi là người đầu tiên xây dựng một công ty Việt Nam tư vấn chuyên nghiệp về đầu tư và kinh doanh ngay sau khi Việt Nam ban hành chính sách “Đổi mới” năm 1987 mở cửa nền kinh tế Việt Nam cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Ông Bạt là tác giả của rất nhiều bài báo, sách và các công trình nghiên cứu tập trung vào nội dung làm thế nào Việt Nam phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá.
- Ông Bạt được nêu danh trong cuốn Barons Who's Who in Vietnam và Barons Who's Who in Asia Pacific như một luật sư và nhà tư vấn xuất sắc.

Quan điểm sáng tác

Tôi làm hết sức mình để "giải độc cho thế hệ trẻ". Tôi cũng là một người cha. Tôi đã nghĩ nhiều để thế hệ trẻ, thế hệ con tôi bước vào cuộc đời với tư cách những người tự do, những người không nhiễm độc, không định kiến, những người có tầm nhìn hình nan quạt chứ không phải cái nhìn trên một đường thẳng. Xét cho cùng, mục tiêu của con người là sống chứ không phải làm việc. Hiện nay ngành giáo dục đang dạy trẻ con sai, làm con cháu chúng ta thi rất giỏi, nhưng làm thì rất kém. Có những người làm rất giỏi, nhưng sống thì tồi.

Còn công việc sắp tới của tôi là thuyết phục các nhà lãnh đạo về những vấn đề sống còn của đất nước. Tôi không phải là người đối lập, nhưng đem những ý kiến của mình thuyết phục người khác thì tôi làm không mệt mỏi.

Tôi yêu cuộc đời một cách chân thật, yêu cả khuyết tật, nhược điểm của nó. Cuộc sống đối với tôi có những khía cạnh khó khăn, khổ sở nhưng cũng có cả những khía cạnh trìu mến, chứa đựng rất nhiều kỷ niệm tinh thần của tôi. Tôi viết sách là để thể hiện tình yêu của tôi đối với cuộc sống, để góp một phần nho nhỏ của tôi vào sự hợp lý hóa đời sống tinh thần của con người và tôi làm việc ấy một cách yên lặng, một cách âm thầm.

(dần tôi sẽ cóp nhặt từng tác phẩm của ông khi có thời gian) Đọc thêm!

Trang