được sưu tầm bởi HXK

đây chỉ là những thông tin về những người mà tôi cho rằng họ giỏi, tôi khâm phục họ, tìm hiểu họ qua cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm cũng như tư tưởng của họ để lại trên thế gian này. cho những con người của thời đại họ sống và cho hậu thế.

Thursday, July 1, 2010

Abraham Lincoln

Abraham Lincoln (12 tháng 2 năm 180915 tháng 4 năm 1865), phiêm âm tiếng ViệtLincôn (còn được biết đến với tên Abe Lincoln, tên hiệu Honest Abe, Rail Splitter, Người giải phóng vĩ đại) là vị Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, tại nhiệm từ năm 1861 đến 1865. Ông là một trong những người đã thiết lập Đảng Cộng hoà năm 1854[1].

Trước khi trở thành tổng thống, Lincoln từng là một luật sư, một thành viên của Viện Dân biểu Hoa Kỳ, và một ứng cử viên không thành công vào Thượng viện Hoa Kỳ. Là một người phản đối kịch liệt sự mở rộng của chế độ nô lệHoa Kỳ và chủ trương xoá bỏ chế độ này,[1] Lincoln đã giành được vị trí ứng viên tổng thống Đảng Cộng Hòa năm 1860 và sau đó được bầu làm tổng thống vào năm đó. Ông đã tiến hành cuộc Chiến tranh Bắc Nam, tức Nội chiến Hoa Kỳ (1861 - 1865) chống lại giai cấp chủ nô ở miền Nam,[1] kết quả là chiến thắng của quân miền Bắc và nô lệ được giải phóng. Lincoln cũng ban hành chính sách ruộng đất, thực hiện nhiều cải cách có tính dân chủ.

Lincoln đã giám sát rất chặt cuộc chiến, đặc biệt trong việc lựa chọn các tướng lĩnh đứng đầu, bao gồm Ulysses S. Grant. Các sử gia đã kết luận rằng Lincoln đã rất khéo léo giải quyết các chia rẽ trong Đảng Cộng Hòa, đưa lãnh đạo của từng phe phái vào nội các và bắt họ phải hợp tác. Lincoln cũng đã giúp Hoa Kỳ tránh khỏi cuộc chiến với Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland vào năm 1861.

Phe phản chiến chỉ trích ông vì từ chối nhượng bộ trong vấn đề nô lệ. Ngược lại, Những Người Cộng hòa Cấp tiến, phe giải phóng nô lệ trong Đảng Cộng hòa, chỉ trích ông vì đã tiến hành giải phóng nô lệ quá chậm. Dù gặp những trở ngại này, ông thường lôi kéo được ý kiến quần chúng nhờ những bài phát biểu thuyết phục của mình; mà Diễn văn Gettysburg là một ví dụ. Kết thúc cuộc chiến, Lincoln đã có quan điểm rất ôn hòa về tái thiết, tìm kiếm sự tái đoàn kết quốc gia thông qua một chính sách tái hòa hợp độ lượng. Vụ ám sát ông năm 1865 là vụ ám sát tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên, làm ông trở thành một chiến sĩ tử vì đạo vì lý tưởng thống nhất quốc gia.


Hình ảnh của Lincoln trên đồng 5 dollar Hoa Kỳ.
Abraham Lincoln
Abraham Lincoln
Thứ tự Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ 4 tháng 3 năm 186115 tháng 4 năm 1865
Tiền nhiệm James Buchanan
Kế nhiệm Andrew Johnson
Ngày sinh: 12 tháng 2 năm 1809
Nơi sinh Hardin, Kentucky
Ngày mất 15 tháng 4 năm 1865 (56 tuổi)
Nơi mất Washington, D.C.
Phu nhân Mary Todd Lincoln
Đảng Cộng hoà
Chữ ký Abraham  Lincoln signature.JPG
Đọc thêm!

tần thủy hoàng

Tần Thủy Hoàng

Hoàng đế Trung Hoa
Qinshihuang.jpg
Hoàng đế nhà Tần
Trị vì 221 TCN210 TCN
Tiền nhiệm Sáng lập đế quốc Tần
Kế nhiệm Tần Nhị Thế

Tên thật
Doanh Chính
Triều đại Nhà Tần
Thân phụ Tần Trang Tương vương / Lã Bất Vi (?)
Thân mẫu Triệu Cơ
Sinh 259 TCN
Mất 210 TCN
Trung Quốc
An táng Lăng mộ Tần Thủy Hoàng
Đọc thêm!

tần thủy hoàng

Tần Thủy Hoàng ( 259 TCN – 210 TCN), tên huý là Doanh Chính, được xem là vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, vì ông đã có công tiêu diệt các nước chư hầu thời Chiến Quốc phân tán để thống nhất lập nên một đế quốc Trung Hoa rộng lớn. Tuy nhiên, ông cũng được xem là bạo chúa vì chính sách cai trị hà khắc và tàn bạo của mình.
Có thuyết cho rằng Tần Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi, một thương nhân và sau trở thành tướng quốc nước Tần.[cần dẫn nguồn]

Khi Trang Tương Vương còn là công tử Tử Sở, làm con tin của Tần ở nước Triệu có quen với Lã Bất Vi, một thương gia giầu có. Bằng mưu mô của mình, Lã Bất Vi đã dâng Triệu Cơ, người thiếp đang mang thai cho Tử Sở. Triệu Cơ sinh ra một trai đặt tên là Doanh Chính. Với sự giúp đỡ của Lã Bất Vi, Tử Sở trở về Tần làm vua, về sau ngôi vương về tay Chính, tức là vua Tần Thủy Hoàng.

Tuy nhiên, theo ý kiến của một số sử gia Trung Quốc hiện đại gần đây[1] thì Doanh Chính là con của Tử Sở chứ không phải là con của Lã Bất Vi. Thuyết này lập luận tập trung vào 2 điểm:

* Một bộ phận lớn triều thần nước Tần vẫn tin vào việc Doanh Chính là con Tử Sở và vẫn hết lòng ủng hộ Doanh Chính trước sau như một. Do đó, chính quyền của Doanh Chính vẫn đứng vững trước cuộc binh biến do Phàn Ô Kỳ phát động nhằm dựng Thành Kiệu lên ngôi. Đại tướng Vương Tiễn đi dẹp cuộc binh biến này trả lời Phàn Ô Kỳ: “Thái hậu có mang mười tháng mới sinh, vậy nay tức là con tiên vương đẻ ra...” Ngay trong thời đó, những người theo thuyết gán Lã Bất Vi là cha Doanh Chính cũng không thể lý giải một cách khoa học vì sao Triệu Cơ lại mang thai Doanh Chính tới 12 tháng mà lập luận theo cách “thiên mệnh” rằng: “Có thể tại lòng trời muốn sinh ra một vị chân mạng thiên tử nên mới để người mẹ hoài thai lâu như vậy...”. Các nhà sử học lý giải rằng: Thực tế, Doanh Chính vẫn chỉ nằm trong bụng mẹ 10 tháng như những đứa trẻ khác kể từ khi Vu Cơ về với Tử Sở. Do cộng thêm thời gian Vu Cơ ở với Bất Vi, thời gian mới là 12 tháng.

* Thuyết này là sản phẩm của sĩ phu các nước chư hầu Sơn Đông bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt. Họ căm hờn vì bị mất nước, nên nhân việc mẹ vua Tần từng là thiếp của Bất Vi để đặt ra chuyện này nhằm hạ thấp kẻ thù không đội trời chung của mình.

Thời thiếu niên lưu lạc

Khi Doanh Chính ra đời, thì công tử Tử Sở hãy còn đang làm con tin ở Triệu. Sau trận Trường Bình, nước Triệu vô cùng khiếp sợ và căm hận nước Tần nên mọi dồn nén đổ lên đầu con tin nước Tần. Năm 257 TrCN, tướng Tần là Vương Ý vây kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Tử Sở nhờ Lã Bất Vi nên trốn thoát về Tần. Doanh Chính và mẹ là Triệu Cơ không thoát được nên phải lẩn trốn tại nước Triệu. Do lưu lạc trong dân gian từ thuở nhỏ nên hình thành tính cách sinh tồn mạnh mẽ ở Doanh Chính. Mãi đến năm 250 TrCN, khi Tử Sở lên ngôi thế tử của nước Tần, nước Triệu buộc phải đưa mẹ con Doanh Chính về Tần.

Lên ngôi hoàng đế

Sau khi đã thôn tính các chư hầu, Tần vương Chính nói:

Quả nhân, một người nhỏ bé, hưng binh trừ khử bọn bạo nghịch làm loạn. Nhờ uy linh của tôn miếu, sáu nước đều chịu tội thiên hạ bình định. Nay nếu không thay đổi danh hiệu thì không sao xứng với công lao đã làm được và truyền cho đời sau. Các ngươi hãy bàn nên đặt hiệu đế như thế nào.

Thừa tướng là Vương Quán, Ngự sử Đại phu Phùng Kiếp, Đình úy Lý Tư đều tâu:

Ngũ Đế ngày xưa đất chỉ vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của man di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận và huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ đến nay chưa hề có, Ngũ Đế đều không bằng. Bọn thần sau khi bàn bạc kỹ lưỡng với các bậc sĩ thấy rằng: Ngày xưa có Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng, nhưng Thái Hoàng là cao quý nhất. Bọn thần xin dâng tôn hiệu của nhà vua là Thái Hoàng, mệnh ban ra gọi là chế, lệnh ban ra gọi là chiếu, thiên tử tự xưng gọi là trẫm'.

Tần vương Chính nói:
“ Ta bỏ chữ 'thái,' lấy chữ 'hoàng,' thêm chữ 'đế,' của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là Hoàng Đế, còn những điều khác thì như lời các khanh tâu.”

Một đạo “chế” ban ra chấp nhận điều đó. Ông truy tôn vua cha Trang Tương Vương là Thái thượng hoàng. Đồng thời, vì là hoàng đế Trung Hoa đầu tiên nên ông xưng hiệu Thủy Hoàng Đế.

Thủy Hoàng có nghĩa là “hoàng đế đầu tiên”, và ông muốn con cháu đời sau lấy danh hiệu: Nhị thế, Tam thế... cho đến vạn thế.

Mở mang cương thổ

Mới hoàn thành sự thống nhất Trung Quốc, chưa kịp củng cố ở trong, Thủy Hoàng đã nghĩ đến việc mở mang bờ cõi ra nước ngoài.

Các dân tộc du mục miền bắc gọi chung là Hung Nô vẫn là mối lo từ đời Thương, Chu. họ thường xâm lấn biên giới, có chỗ sống lẫn lộn với người Trung Hoa. Đầu đời Tần họ đã len lỏi vào Hà Nam, Tần Thủy Hoàng vội chặn họ lại, sai Mông Điềm làm chánh tướng cầm quân, cùng với con Vương Bí, cháu Vương Tiễn là Vương Ly làm phó tướng, đưa quân đánh dẹp và trấn thủ biên giới phía bắc.

Trong thời gian hơn một năm, Mông Điềm đã chỉ huy quân Tần đánh lui quân Hung Nô ở phía bắc, giành được thắng lợi. Quân Hung Nô bị đánh đuổi từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Âm Sơn tất cả 31 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà để làm giới hạn. Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giả, xây đình và thành lũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa những người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện.

Mông Điềm đánh bại Hung Nô, trấn thủ Thượng Quận (nay là phía đông nam huyện Du Lâm – Thiểm Tây), bắt đầu việc cai trị biên giới. Trong quá trình chinh phạt, Mông Điềm trước sau chú trọng khai phá vùng biên ải, lấy các vùng đất mới làm thành “Tân Tần Địa”, chia thành 44 huyện, cắt đặt quan lại.

Mông Điềm chiêu tập nam đinh trong nước đi xây dựng các tuyến phòng thủ ở những nơi hiểm yếu dọc theo biên giới. Trong vài năm, ở biên giới phía bắc Hàm Dương đã xây dựng được ba tuyến phòng ngự.

* Tuyến thứ nhất nằm ở Bắc sông Hoàng Hà, giữa núi Âm Sơn và Dương Sơn.

* Tuyến thứ hai là phía tây, quận Cửu Nguyên, nằm dọc theo phía tây dãy Âm Sơn nối với Trường Thành ở nước Triệu.

* Tuyến thứ ba chính là Trường Thành có từ thời Tần được điều chỉnh lại.

Trên cơ sở đó, Mông Điềm còn huy động sức dân trong nước xây dựng Trường Thành dọc theo biên giới phía đông. Lúc bây giờ, ở biên giới phía bắc nước Tần, ngoài Trường Thành của nước Tần còn có Trường Thành của nước Triệu và nước Yên còn lại từ thời Chiến Quốc. Phía tây Trường Thành bắt nguồn từ Lâm Thao [2]. Phía đông trải dài tới tận Liêu Đông, dài hơn vạn dặm. Đây chính là Vạn Lý Trường Thành nổi tịếng thế giới ngày nay.

Tần Thủy Hoàng còn sai Đồ Thư đi đánh lấy Bách Việt, tức các tỉnh Chiết Giang, Quảng Đông, Quảng Tây, và một phần miền Bắc của Việt Nam, thời đó gọi là Âu Lạc của An Dương Vương.

Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà đưa những người thường trốn tránh, người ở rể và người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.

Năm 213 TCN, Thủy Hoàng lại đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành và đi thú ở đất Nam Việt.

Có thể coi Tần Thủy Hoàng đã lập được một đế quốc lớn vào bậc nhất thế giới thời đó, và người phương Tây, do những thương nhân chở lụa sang bán, đã biết danh nhà Tần, gọi Trung Hoa là nước Tần.

Chỉ trong mười mấy năm Thủy Hoàng thực hiện được bấy nhiêu công trình về nội trị, tổ chức hành chính, thống nhất ngôn ngữ, văn tự v.v..., xây cất, đắp đường, mở mang cương vực, được nhiều sử gia coi là vĩ đại.
Cách đối xử với sĩ phu

Khi quan bác sĩ người Tề là Thuần Vu Việt - vốn là nhà nho - tâu xin phong đất cho người tông tộc làm chư hầu, Thủy Hoàng theo ý kiến của Lý Tư bác đi; đồng thời ông còn nghe theo ý kiến bài nho của Lý Tư:

Ngũ Đế không trùng lặp nhau, Tam Đại không bắt chước nhau, đời nào trị dân theo cách của đời đó, không phải vì họ phản lại nhau, chính vì thời thế thay đổi cho nên như vậy. Nay bệ hạ lần đầu tiên làm nên nghiệp lớn, dựng lên cái công vạn đời, đó không phải là điều bọn nhà Nho ngu ngốc biết được. Vả chăng, điều Thuần Vu Việt nói là những việc của thời Tam Đại, làm sao có thể đủ cho ta bắt chước? Trước đây, các nước chư hầu tranh nhau, hậu đãi đón mời những người du thuyết. Nhưng bây giờ thiên hạ đã bình định, luật pháp, mệnh lệnh, đều từ một nơi ban ra, trăm họ làm ăn ra sức lo về nghề nông, nghề công, kẻ sĩ thì học tập pháp luật, mệnh lệnh những điều ngăn cấm. Nay các Nho sinh không theo thời nay mà học thời xưa để chê bai thời nay làm cho bọn dân đen rối loạn, thần tư này là thừa tướng xin liều chết nói rằng: Ngày xưa thiên hạ phân tán rối loạn không ai thống nhất được! Vì vậy cho nên các chư hầu cùng trị vì một lúc, khi nói thì mọi người đều nói việc xưa làm hại việc nay, trau chuốt những lời nói suông làm loạn việc thực, mọi người đều lấy cái học riêng của mình để chê bai những điều nhà vua làm. Nhưng nay Hoàng đế đã thâu tóm cả thiên hạ, phân biệt trắng đen mà định ra điều duy nhất được tôn trọng. Những kẻ học Nho theo cái học riêng của mình lại cùng nhau chê cười pháp luật rồi đem dạy cho người ta. Khi nghe lệnh ban xuống thì họ đều lấy cái học riêng của mình để bàn tán. Khi vào triều, thì trong bụng chê bai. Ra đường, thì bàn bạc chê vua của mình để lấy danh, làm cho khác người để tỏ là cao, bày cho kẻ ở dưới phỉ báng. Nếu như thế mà không cấm thì ở trên uy thế của nhà vua sẽ bị giảm sút, ở dưới các bè đảng sẽ nổi lên. Nên cấm là hơn. Thần xin đốt tất cả các sách sử, trừ những sách sử của nhà Tần. Trừ những người làm chức bác sĩ, ai cất giấu Kinh Thư, Kinh Thi, sách vở của trăm nhà đều đem đến quan thú, quan úy mà đốt đi, hai người dám bàn nhau về việc Kinh Thư, Kinh Thi thì chém giữa chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ. Quan lại biết mà không tố cáo, thì cũng bị tội. Lệnh ban ra trong ba mươi ngày không đối sách thì khắc vào mặt cho đi thú để xây và canh giữ trường thành. Những sách không bỏ là sách thuốc, sách bói, sách trồng cây. Ai muốn học pháp luật thì thờ quan lại làm thầy.

Hầu Sinh và Lư Sinh bàn nhau:

Thủy Hoàng tính khí bướng bỉnh, gàn dỡ, chỉ nghe theo mình. Xuất thân là chư hầu, thâu tóm cả thiên hạ, ý chí tự đắc, muốn gì được nấy, tự cho rằng từ xưa đến nay không ai bằng mình, chuyên dùng bọn pháp quan. Bọn pháp quan được yêu quý, bác sĩ tuy có 70 người nhưng chỉ cho đủ số chứ không được dùng. Thừa tướng và các quan đại thần đều nhận được những điều đã quyết định xong còn việc làm là ở nhà vua. Nhà vua thích việc hình phạt chém giết để ra uy. Thiên hạ sợ tội muốn giữ bổng lộc không ai dám hết lòng trung. Nhà vua không nghe nói đến sai lầm của mình nên ngày càng kiêu ngạo. Ở dưới thì sợ nép một bề, nói dối để được dung thân. Theo phép nhà Tần không được làm hai nghề, làm sai là chết ngay. Những kẻ xem sao, khí mây có đến 300 người đều là những người giỏi nhưng đều sợ hãi, trốn tránh a dua, không nói những sai lầm của nhà vua. Công việc trong thiên hạ không kể lớn nhỏ đều do nhà vua quyết đoán. Đến nổi nhà vua phải lấy thạch mà cân giấy tờ, một ngày một đêm không làm đủ một thạch thì không được nghĩ ngơi. Con người tham quyền thế như vậy không thể nào tìm thuốc thiên cho ông ta được.

Hai người bèn bỏ trốn.

Thủy Hoàng nghe nói họ bỏ trốn thì nổi giận, nói:
“ Trước đây ta thu các sách trong thiên hạ, sách nào không dùng được thì bỏ đi, sai triệu tập tất cả những người có văn học và những phương sĩ, thuật sĩ rất đông muốn làm cho thiên hạ thái bình. Ta triệu tập bọn thuật sĩ là muốn họ tìm thuốc lạ, nay nghe nói bọn Hàn chúng bỏ đi không báo với ta, bọn Từ Phúc làm tốn kém hàng ức vạn, nhưng cuối cùng vẫn không được thuốc, ngày ngày chỉ nghe chúng nói nhau về việc tham lợi riêng của chúng. Bọn Lương Sinh được ta tôn quý, thưởng cho rất nhiều nhưng lại phỉ báng ta để làm nặng điều sai lầm của ta, bọn nhà Nho ở Hàm Dương được ta sai người hỏi thì có kẻ đặt ra những lời nói nhảm để làm loạn bọn “đầu đen”.”

Bèn sai ngự sử xét tất cả các nhà nho. Các nhà nho tố giác lẫn nhau, có hơn 460 người phạm điều đã cấm. Thủy Hoàng sai chôn sống tất cả ở Hàm Dương, báo cho thiên hạ biết để làm răn. Sau đó lại sai đày biên giới nhiều người bị tội để đi thú.

Con cả của Thủy Hoàng là công tử Phù Tô can:

Thiên hạ mới được bình định. Những kẻ 'đầu đen' ở phương xa vẫn chưa theo ta. Các nho sinh đều học theo Khổng Tử, nay bệ hạ dùng theo pháp luật nặng để trói buộc họ thì thần sợ thiên hạ không yên, xin bệ hạ nghĩ đến điều đó.

Tần Thủy Hoàng nổi giận sai Phù Tô đi lên miền bắc để giám sát tướng Mông Điềm ở Thượng Quận.

Nông nghiệp

Tần Thủy Hoàng theo Pháp gia nên khuyến khích binh, nông; ghét công, thương. Muốn nắm hết mối lợi thương nghiệp, triều đình đày hết phú thương có những xưởng sản xuất sắt lại miền Thiểm Tây và miền Tứ Xuyên. Hai trăm ngàn gia đình phú thương, tiểu thương bị đày tại xứ Thục và miền An Dương (phía nam Lạc Dương ngày nay), hẳn là để làm ruộng.

Nông dân được ưu đãi. Đất không còn là sở hữu của nhà vua nữa, mà của người làm ruộng. Người chủ ruộng có quyển bán ruộng và ai cũng có quyền mua. Chế độ đó gọi là danh điền, tạo nên một giới địa chủ có những cơ sở rất lớn, dần dần thành một giai cấp có quyền hành tương tự như các chư hầu nhỏ thời trước.

Năm hay mười nhà họp nhau thành một liên gia, chịu chung trách nhiệm với nhau. Chế độ này được áp dụng ở Trung Hoa cho tới đầu đời nhà Hán. Tráng đinh nào cũng phải đi lính tới già. Gia đình nào có ba người đàn ông thì phải chia làm hai hộ. Hình luật tàn khắc nghiệt hơn thời trước nhiều.
Thống nhất văn tự, đo lường, tư tưởng

Trước triều đại Tần, mỗi miền có một ngôn ngữ và chữ viết riêng. Một quan chức Tần đi cai trị một nước khác, không hiểu ngôn ngữ nước đó thì khó làm tròn nhiệm vụ. Vì vậy, tể tướng Lý Tư thực hiện việc thống nhất ngôn ngữ và văn tự, sau này thành thông dụng trong toàn cõi Trung Hoa.

Ông lại thống nhất các dụng cụ đo lường (cả nông cụ, cày bừa...), như vậy để dễ tính thuế và thu thuế. Thuế trả bằng lúa, phải dùng thuyền, xe chở đến các quận và kinh đô. Vì thế, cũng cần thống nhất khoảng cách giữa hai bánh xe (xe đồng quy), nếu không thì những xe quá lớn vào những đường nhỏ không được.

Quan trọng nhất là thống nhất tư tưởng. Về điểm này, những đại thần theo pháp gia (Lý Tư, Hàn Phi) chịu ảnh hưởng của Mặc Tử. Mặc Tử trước kia đã chủ trương “thượng đồng”, nghĩa là bắt dân phải tán đồng lẽ phải với người trên, phải cùng một quan niệm tốt xấu với người trên. Không ai được có chủ trương riêng khác với chính sách của triều đình. Tần Thủy Hoàng có ác cảm với nho sĩ, triết gia mở trường tư dạy đạo lý, chỉ trích chiến tranh và hình pháp tàn bạo. Thủy Hoàng chỉ muốn nhồi nặn dân chúng thành dễ bảo, có kỷ luật. Tư do tư tưởng, tự do ngôn luận là tội nặng nhất. Tứ thư và Ngũ kinh của đạo nho bị xem là phản động vì khiến dân nhớ tiếc trật tự cũ của chế độ phong kiến.

Năm 213 TCN, theo đề nghị của Lý Tư, Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và chôn nho: đốt hết các bản Tứ thư, Ngũ kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại một bản tàng trữ trong thư viện của triều đình. Các bộ sử của lục quốc cũng phải đốt hêt, chỉ được giữ những sách về kỹ thuật, như sách thuốc, sách trồng trọt, sách bói... Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị kết tội là phản quốc. Có người phải giấu sách vào trong tưởng, có người lại ráng học thuộc lòng thư và kinh để truyền miệng lại đời sau.

Năm chục năm sau (đời Hán), lệnh phần thư đó mới bãi bỏ, không ai có thể nhớ đúng Tứ thư, Ngũ kinh cả. Còn bản cất trong thư viện triều đình thì đã bị đốt cùng với Hàm Dương trong cuộc cách mạng của nông dân cuối đời Tần. Do đó mà sách đời Tiên Tần mất rất nhiều, cuốn nào còn lại thì cũng bị thêm bớt, sửa chữa, khó tin được là chính xác; lại thêm nạn nguỵ thư: người đời sau viết mà mượn tên người đời trước, để cho tác phẩm của mình có giá trị, như bộ Quản Tử chẳng hạn.

Số nhà nho bị chôn sống ở Hàm Dương là 460 người. Sau mỗi ngày một đông, đều bị đày ra ngoài biển.

Các trường tư bị dẹp hết. Dân muốn học thì phải học các quan (bác sĩ) của triều đình, mà chỉ được dạy cho mỗi môn là pháp luật của quốc gia.
Xây dựng hạ tầng cơ sở

Tần Thủy Hoàng giao hết việc trị nước cho Lý Tư, mà dành thì giờ đi kinh lý các miền, xây đường sá, tổ chức các trạm và xây cung điện.

Những đường từ kinh đô Hàm Dương đi bốn phương đều rộng, thẳng băng, có ba lối cho xe chạy, trồng cây hai bên lề, muốn vậy phải san núi, lấp thung lũng, tốn rất nhiều nhân công. Đường đó chỉ để cho vua và quan lớn đi, còn dân chúng thì phải dùng đường mòn ở hai bên.

Khi chiếm được kinh đô một nước chư hầu nào, Thủy Hoàng sai người vẽ kiểu cung điện của nước đó để về xây dựng lại y hệt tại Hàm Dương, ở bên cung điện của ông, thành một dãy dài cả mấy dặm. Bao nhiêu đồng trong thiên hạ gom cả về để đúc những tượng nặng 24.000 cân bày trong cung đình.

Ngoài ra, ở gần kinh đô, ông còn xây một cung để nghỉ mát mùa hè, cung A Phòng, trên bờ sông Vị. Phải dùng 70 vạn tù nhân để cất, chở đá từ các núi phương bắc xuống, chở gỗ từ các rừng phương nam lên.

Trong bán kính trên trăm cây số chung quanh kinh đô, còn xây thêm 270 cung điện. Bao nhiêu châu báu, nhạc công và vũ nữ của lục quốc, Tần Thủy Hoàng gom cả về đó để làm vui tai mắt cho ông. Tương truyền cuối đời Tần, kinh đô bị chiếm và đốt, ba tháng sau ngọn lửa mới tắt.

Công trình kiến trúc lớn nhất, tới nay vẫn còn dấu vết là Vạn Lý Trường Thành. Sự thực nhiều khúc thành đã được các nước Yên, Triệu, Nguỵ xây từ thời trước, nay Tần Thủy Hoàng chỉ cho nối lại, kéo dài, củng cố thêm, để thành một thành duy nhất dải cả ngàn cây số. Ba trăm ngàn chiến sĩ với một số đông tội nhân, quan lại phạm lỗi, nho sĩ không tuân lệnh đốt sách... phải làm khổ sai trong miền rừng núi, mùa đông thì lạnh buốt, nước đóng băng, mùa hè thì không khí nóng như nung, mù mịt cát bụi. Trên thành cất những đồn canh, và có đường rộng chạy ngựa được giữa các đồn với nhau.

Nhưng trong dân gian còn truyền lại nỗi khổ của nàng Mạnh Khương, thương nhớ chồng, đi mười ngàn dặm đường để thăm chồng bị bắt đi xây thành, đến nơi thì chồng nàng đã chết rồi. Chung quanh chỉ là rừng núi và đá. Không biết kiếm xác chồng ở đâu, nàng tuyệt vọng, khóc mấy ngày mấy đêm, khóc tới nỗi chính cái thành cũng phải mủi lòng. Nàng khóc làm đổ cả một đoạn thành. Thành xây xong, giúp cho Trung Hoa ngăn được các bộ tộc xâm lăng trong một thời gian, chứ làm sao ngăn cản được một cách vĩnh viễn. Hễ Trung Hoa suy, các bộ tộc du mục thịnh lên thì họ lại vượt qua được trường thành, vào chiếm các cánh đồng phì nhiêu của Trung Hoa.
Qua đời
Tượng Tần Thủy Hoàng, gần các bức tượng đất sét trong lăng mộ ông.

Năm 211 trước Công nguyên, Thủy Hoàng đi kinh lý, Tả Thừa tướng Lý Tư đi theo, Hữu Thừa tướng Khứ Tật ở nhà. Hồ Hợi, con nhỏ của Thủy Hoàng, được nhà vua yêu mến xin đi theo, vua bằng lòng. Khi đi về phía tây đến bến Bình Nguyên thì bị bệnh.

Thủy Hoàng ghét người ta nói đến việc chết, cho nên quần thần không ai dám nói với nhà vua về việc chuẩn bị cho việc ông qua đời. Khi bệnh càng nặng, nhà vua viết thư đóng dấu của vua gửi đến công tử Phù Tô nói: “Con về Hàm Dương với đám tang, và chôn cất ta ở đấy.” Bức thư đã niêm phong ở trong phủ trung xa thuộc quyền Triệu Cao. Bức thư có dấu của nhà vua làm tin chưa giao cho sứ giả, thì Thủy Hoàng qua đời ở Bình Đài, thuộc đất Sa Khâu.

Thừa tướng Lý Tư thấy nhà vua mất ở xa kinh đô, sợ các công tử và thiên hạ có biến loạn, bèn giấu kín điều đó, không báo tang, chở quan tài trong một cỗ xe mát, cho một hoạn quan được vua yêu ngồi trong xe, đến đâu thì dâng thức ăn, trăm quan vẫn tâu việc như thường. Viên hoạn quan ở trong xe nghe lời tâu, liền bảo: “Được!” Chỉ có Hồ Hợi, Triệu Cao và một vài hoạn quan thân tín của nhà vua, tất cả có năm sáu người biết là nhà vua đã chết.

Triệu Cao trước đây đã có lần dạy Hồ Hợi học viết cùng với pháp luật, mệnh lệnh. Hồ Hợi yêu quý Triệu Cao. Triệu Cao bèn cùng công tử Hồ Hợi và Thừa tướng Lý Tư âm mưu phá hủy bức thư của Thủy Hoàng gửi cho công tử Phù Tô, mà bịa đặt thành ra chuyện Lý Tư đã nhận được tờ chiếu của Thủy Hoàng ở Sa Khâu, trước khi chết bảo lập Hồ Hợi làm thái tử. Lại làm một bức thư khác gửi cho công tử Phù Tô, và Mông Điềm kể tội hai người, ra lệnh cho hai người phải chết. Xe đi từ Tỉnh Hình đến Cửu Nguyên. Gặp lúc trời nắng, chiếc xe mát phát ra mùi thối, đòng tùy tùng sai các quan đi theo chở trên xe một thạch cá muối để đánh lẫn mùi thối. Đi theo đường thẳng đến Hàm Dương mới báo tang.

Thủy Hoàng được an táng trong một ngôi mộ đã xây sẵn ở Ly Sơn. Trong mộ chứa rất nhiều châu báu, có một bản đồ của một trăm con sông, trên đó sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và biển Đông đều bằng thủy ngân. Hầm mộ ngày đêm đều thắp đèn đốt bằng dầu cá, một loại cá đặc biệt giống hình người. Quan tài hạ rồi, người ta nấu đồng để gắn phần mộ và đặt một cái máy để hễ có kẻ nào lén vào đào mả thì sẽ bị những mũi tên từ mọi chỗ phát ra tự động bắn vào. Tương truyền lăng đó do 70 vạn người xây cất trong nhiều năm.

Tần Thủy Hoàng qua đời rồi, thừa tướng Lý Tư và hoạn quan Triệu Cao làm di chiếu giả, không lập thái tử Phù Tô mà lập thứ tử Hồ Hợi lên ngôi, tức Nhị Thế Hoàng Đế (Hoàng đế đời thứ nhì).
Tội ác

Có những quan điểm cho rằng Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa. Trong gần 40 năm ngồi trên ngai vàng, ông có nhiều hành động được cho là tội ác, đó là: Xây Vạn Lý Trường Thành, xây cung Lương Sơn , xây cung A Phong (hay A Phòng), đốt sách, chôn học trò và xây lăng mộ cho riêng mình.
Nhận định

Có ý kiến cho rằng Tần Thủy Hoàng có tư cách tầm thường, lại còn hung bạo, quá khắc nghiệt. Các sử gia Trung Hoa vì chịu ảnh hưởng của đạo Khổng nên có ý phê phán ông, nhất là việc ngược đãi nho sĩ, đốt sách...

Tuy nhiên, các sử gia phương Tây nhìn nhận ông là một trong những nhân vật ngoại hạng trong mọi thời đại. Ông chỉ cầm quyền chưa đầy mười lăm năm mà làm cho nước Trung Hoa thay đổi hẳn, thống nhất về mọi mặt, mở mang thêm bờ cõi, thành một đế quốc lớn thời thượng cổ. Đó là một thành tựu được kể là vượt bậc. Ngày nay cái tên “China” hay “Sino” mà người phương Tây dùng để gọi Trung Quốc đều xuất phát từ phiên âm chữ “Tần” (Sin) mà ra.

Điều hiển nhiên là dân chúng dưới đời Tần Thủy Hoàng chịu nhiều cực khổ, dù làm sai bị xử án nhưng vẫn không tâm phục khẩu phục. Dân Tần phát triển kém hơn sáu nước mà họ đã chinh phục, nên họ còn có thể chịu được sự thiếu thốn, lao khổ vì họ quen rồi. Dân sáu nước văn minh hơn, rất uất hận dưới ách của Tần mà họ coi như mọi rợ, chỉ chờ cơ hội để nổi dậy. Đó là một nguyên nhân khiến Tần rất mau suy vong.

Dù sao, triều đại Tần Thủy Hoàng Đế là một khúc ngoặt cực kỳ quan trọng trong lịch sử Trung Hoa. Hiện giờ các sử gia của Trung Quốc có nhận định khách quan về ông hơn là các sử gia xưa. Đọc thêm!

ca sĩ ngọc sơn

Bước vào nghề từ một sinh viên nghèo bữa đói, bữa no, Ngọc Sơn trở thành một ca sĩ được khán giả yêu mến với dòng nhạc trữ tình quê hương. Biết bao điều tiếng, sự kiện không hay xảy ra chung quanh cái mác “ngôi sao chơi ngông nhất Việt Nam”, cái tên này vẫn tồn tại và được một bộ phận khán giả chấp nhận.

Ngọc Sơn nhắc đến tuổi thơ của mình bằng những ký ức của một học trò nghèo. Cha anh quê ở Đà Nẵng. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, gặp mẹ anh ở Hải Phòng, kết hôn và sinh ra 4 người con. Cha mẹ làm nghề giáo nhưng Sơm chỉ mê ca hát. Ngọc Sơn bảo mình từ nhỏ có tính hiếu động, luôn quyết tâm thực hiện bằng được những ước mơ. Ba mẹ có ý khuyến khích các con theo nghề giáo, nhưng Sơn chọn nghề diễn viên.

Năm 1975, gia đình anh chuyển hẳn vào Nam sinh sống. Mảnh đất Bạc Liêu là nơi cả nhà dừng chân. Mẹ anh làm hiệu trưởng một trường THCS, cha anh công tác tại ngành giáo dục tỉnh. Những năm tháng ở vùng đất chiếc nôi của Dạ cổ hoài lang, Ngọc Sơn càng khao khát nghệ thuật.

Cùng một nhóm bạn, Sơn tham gia đờn ca tài tử, ca hát nghêu ngao. Năm 1987, anh được tuyển lên TP HCM học lớp đào tạo diễn viên Trường Nghệ thuật Sân khấu 2 (nay là Cao đẳng Sân khấu Điện ảnh TP HCM). Theo học khoa Diễn viên kịch nói, nhưng đến năm 1988 anh lại thi vào khoa Thanh nhạc Viện Nghiên cứu âm nhạc Việt Nam. Cũng từ đó, cái tên Ngọc Sơn bắt đầu xuất hiện trên sân khấu ca nhạc Sao Đêm của đạo diễn Phương Sóc tại Nhà Văn hóa quận 10.

Điểm lại quãng đời tuổi thơ, Ngọc Sơn cười rạng rỡ: "Tôi chẳng có gì hối hận về việc chọn nghề ca hát. Vì tuổi thơ tôi mê ca hát, mà ông bà xưa có hát ru: "Trồng trầu trồng lộn dây tiêu, con mê hát bội mẹ liều con hư". Ba má tôi hồi đầu chẳng ưng ý việc tôi làm ca sĩ. Ông bà vẫn tin rằng tôi sẽ theo ngành sư phạm. Thế nhưng chị tôi theo nghề y, các em tôi lại nối gót theo tôi làm ca sĩ. Đời người như một dòng sông mà chỉ có người cầm lái mới biết khúc sông nào sâu, cạn. Quan trọng là đừng buông lái, đừng để mình sống buông thả như bản thân tôi đã có một giai đoạn... buông chèo".

Sân khấu Sao Đêm là nơi chàng trai gốc Bắc bước chập chững vào làng ca nhạc. Thời đó, Sơn thường phải ngồi chờ gần 1 giờ đồng hồ mới được ra sân khấu. Vóc dáng ốm tong, cao lêu nghêu, đi chiếc xe đạp sườn ngang, nếu không ai giới thiệu, khán giả sẽ lầm tưởng anh là một nhân viên bảo vệ. Nhưng khi cất giọng hát, chất giọng ngọt ngào, trầm ấm của Ngọc Sơn đã chinh phục khán giả. Anh được chú ý và được mời về hát ở Nhà hát Hòa Bình. Chỉ vài tháng sau, từ cát-xê “chết đói” 10.000 đồng một đêm, Ngọc Sơn được trả 500.000 đồng đến 1-2 triệu đồng mỗi sô diễn.

Lúc nổi tiếng, báo chí nhắc đến, công chúng hâm mộ, từ chiếc xe đạp sườn ngang, Ngọc Sơn mua xe gắn máy phân khối lớn, rồi “xế hộp” đời mới. Sô diễn chất chồng xếp lịch phải né ngày, né giờ, thậm chí bầu sô đặt cọc trước suất diễn, tặng thêm tiền “lì xì” để chỉ hát cho họ. Sơn tậu nhà lầu, rước cha mẹ, chị em lên TP HCM sinh sống, dắt hai em theo nghiệp hát.

Lúc này, cha mẹ không còn cấm đoán chuyện Sơn hát xướng nữa. Chẳng ai có thể khuyên ngăn nổi những bước đi của anh. Một số bài báo thời đó đã góp ý anh về cách biểu diễn. Công luận cho rằng phong cách trữ tình không thể chấp nhận việc nhảy múa như nhạc rock, nhưng Ngọc Sơn lại cho đó là “ưu thế” của mình, vì vậy anh bị xem là ca sĩ ngông cuồng.

Cho đến sự kiện đêm sinh nhật thác loạn của Pierre Tân, một Việt kiều ở Mỹ về nước, và Ngọc Sơn có mặt trong buổi tiệc được đánh giá là trụy lạc nhất thời đó. Khi báo chí nêu tên anh, gia đình hoang mang. "Tôi cũng hết sức lo ngại cho sự xuất hiện chẳng đúng lúc của mình, bởi Tân là một kiến trúc sư, đang thiết kế và làm nhà cho tôi. Việc tôi đến gửi tặng cây guitar, sau đó ra về nhưng vẫn bị cho là 'trụy lạc', đã thật sự trở thành nỗi ám ảnh và cho tôi nhiều bài học về mối quan hệ trong cuộc sống", Sơn kể lại.

Và rồi sự kiện tày trời khác lại xảy ra chung quanh cái tên Ngọc Sơn vào năm 1993, khi anh tham gia thu âm một số bài hát chưa được phép công bố (trong đó có bài Bông cỏ may nói về lính cộng hòa). Anh bị kết án tù 8 tháng 12 ngày.

Ngọc Sơn tâm sự: "Thời gian này tôi thật sự khủng hoảng tinh thần. Sự ngu ngơ của tôi đã phải trả cái giá quá đắt. Một số đầu nậu đĩa về nước mời tham gia thu âm, tôi không kiểm tra những ca khúc ấy có được Bộ VHTT cấp phép lưu hành hay chưa, và thu bừa. Tính hiếu thắng đã khiến tôi trả cái giá quá đắt. Trong suốt thời gian tôi bị giam, ba má tôi rất khổ sở, nhưng ông bà vẫn là niềm động viên lớn nhất với tôi. Bản thân tôi biết mình có tội, đã làm cho cha mẹ buồn. Tôi lao vào học ngoại ngữ, học để bù đắp những lỗi lầm và tin tưởng sẽ được mọi người tha thứ".

Rời trại giam, Ngọc Sơn khác hẳn trong mắt bạn bè về một con người không còn muốn chứng tỏ mình là “số một”. Anh làm lại từ đầu với việc lao vào sáng tác ca khúc. Các ca khúc Tình cha, Lòng mẹ (cùng tên với ca khúc Lòng mẹ của nhạc sĩ Y Vân), Tình mẹ... được khán giả hết lòng đón nhận bởi sự chân thành của anh về hai đấng sinh thành đã quá khổ do sự “nổi tiếng” của con trai.

Vào thời điểm đó, sức hút của Ngọc Sơn quá mạnh. Phần vì anh vừa được trả tự do, phần vì sự thay đổi phong cách nên các sô diễn về với anh dày đặc, sân bãi tổ chức đại nhạc hội treo tên anh có suất thu hút 10.000 người xem ở các tỉnh miền Tây. Sơn tập hợp những bài hát hay và ra mắt album ca nhạc đầu tiên. Thời đó, CD Tiếng hát Ngọc Sơn được bán với giá 36.000 đồng và tiêu thụ hơn 800.000 đĩa.

Ngọc Sơn nhớ lại và đúc kết: “Tôi nghĩ mình may mắn. Đã có lúc tôi thấy mình cô đơn, tuyệt vọng, nhưng rồi những phút giây ấy cũng qua nhanh. Bù lại tôi lao vào học tập không ngừng. Đời người là một hòn đá thô, có mài, có giũa, chịu được sự cọ xát của quy luật cuộc sống thì đá kia mới trở nên quý giá. Tôi quan niệm sống trên đời là trả nợ. Mình nợ rất nhiều tình thương của cha mẹ, sự giáo huấn của xã hội, nhà trường, thày cô và với cái nghề của tôi thì nợ khán giả. Tôi là hòn đá mắc nợ trần gian".

Hỏi bao giờ cưới vợ, Ngọc Sơn ngập ngừng: “Tôi sống với đại gia đình chân tình, cưới vợ rồi chỉ phải lo cho một người, cảm thấy ích kỷ quá, nên cứ để lần hồi hãy tính. Duyên số đến thì tôi sẽ công bố. Vợ tôi sẽ không là người trong nghề, có thể sẽ là khán giả của tôi”. Còn một liveshow Ngọc Sơn của 15 năm ca hát? Anh cười rất thực tế: "Làm liveshow cho mình mà lỗ mấy trăm triệu, số tiền đó để giúp đỡ cho những mảnh đời bất hạnh có lẽ tốt hơn".
Đọc thêm!

8 Điều Chân Tình Của Ngọc Sơn


Xem hình

Ðiều 1 : Ðạo Ðức Nhất Của Con Người Là Giữ Tròn Chữ Hiếu
-
Ðiều 2 : Khó Khăn Nhất Của Con Người Là Chiến Thắng Chính Mình
-
Ðiều 3 : Cao Quý Nhất Của Con Người Là Giúp Ðỡ Những Ai Khốn Khó
-
Ðiều 4 : Sai Lầm Nhất Của Con Người Là Dối Gian
-
Ðiều 5 : Tự Hào Nhất Của Con Người Là Nhường Nhịn Và Hy Sinh
-
Ðiều 6 : Thấp Hèn Nhất Của Con Người Là Miệt Thị Và Khinh Bỉ Người Khác
-
Ðiều 7 : Dại Dột Nhất Của Con Người Là Đánh Mất Lòng Tin .
-
Ðiều 8 : Khôn Ngoan Nhất Của Con Người Là Biết Nhìn Lại Chính Mình !
xem thêm Đọc thêm!

ngọc sơn

Ca sĩ Ngọc Sơn, (26.11.1970-), là một ca sĩ, nhạc sĩ Việt Nam được biết nhiều đến nhờ cả tài năng và các vụ scandal.


Sự nghiệp

Ngọc Sơn sinh ra tại Đồ Sơn, Hải Phòng, quê ở Quảng Nam - Ðà Nẵng. Cùng với Ngọc Hải và Ngọc Hà, ba anh em Ngọc sơn đã từng thực hiện nhiều chương trình ca nhạc. Với giọng nam cao, ấm, khỏe có âm vực khá rộng và phong cách biểu diến chuyên nghiệp, Ngọc Sơn không chỉ để lại cho khán giả trong nước và quốc tế ấn tượng với những ca khúc dân tộc đằm thắm, trữ tình mà anh còn có sức cuốn hút bởi nhiều thể loại âm nhạc khác nhau như Pop, Rap, Rock v.v. Ngọc Sơn khá thành công với gần trăm dĩa CD ca nhạc, album cá nhân, cùng các tuyển tập với 30 bài nhạc bằng tiếng Việt hay ngoại ngữ được anh sáng tác.

Ngọc Sơn đã đạt các giải: Hạng I những giọng ca hay các tỉnh Miền Tây năm 1985, Ca sĩ được mến mộ nhất năm 1989 tại Nha Trang, CD Ngọc Sơn Pop 1 đoạt giải đĩa hát vàng năm 1997 v.v.

Phong cách và tai tiếng

Ngọc Sơn là ca sĩ được nhiều người yêu thích, nhưng tên tuổi của anh cũng bị kiêng kỵ phần nào nhờ những vụ tai tiếng.

Anh cũng là ca sĩ VN rất được khán giả Nhật mến mộ và có 2 học sinh là ca sĩ người Nhật.

Năm 2006, anh cho in nhiều tờ poster tuyên truyền "8 điều chân tình của Ngọc Sơn" với kiểu ngữ pháp tương tự như "14 điều răn của Phật", trong đó có những câu:" Đạo đức nhất của con người là tôn trọng chữ hiếu", "Khó khăn nhất của con người là chiến thắng chính mình".v.v. Tuy nhiên 20.000 tấm poster được in ra và phát miễn phí để tuyên truyền lại trở thành trung tâm của nhiều sự châm biếm khi anh để hình mình mặc áo thun ba lỗ ở kế bên những dòng chữ đó. Còn khi được hỏi "anh có làm theo những lời chân tình đó không ?" thì Ngọc Sơn trả lời: "Tôi nói người ta làm thôi, tôi đâu có làm!".

Cũng năm 2006, bức tượng tạc hình Ngọc Sơn đặt trước nhà anh bị chính quyền bắt phải gỡ xuống vì có tin đồn rằng bức tượng đó chảy nước mắt. Tin này là một kiểu ăn theo các tin tương tự đi trước như "tượng Đức mẹ chảy nước mắt"... Năm 2008, một clip được tung lên mạng được cho là của Ngọc Sơn và Duy Mạnh. Trong clip Ngọc Sơn đã có những hình ảnh không đẹp về việc chat qua paltalk.

Ngoài ra, phong cách biểu diễn của Ngọc Sơn cũng khá đặc biệt, anh sáng tạo ra kiểu nhảy Cha cha cha kết hợp với biểu diễn thể hình (anh từng là lực sĩ thể hình), qua đó gồng mình khoe cơ bắp ngay trên sân khấu ca nhạc.

Với bề dày những sự vụ lạ đời của mình, hiện nay hình ảnh của Ngọc Sơn không còn được xuất hiện trên truyền hình.

Các biệt danh

  • Hoàng tử nhạc sến
  • Ông vua nhạc sến
  • Michael Ngọc Sơn

Các bài sáng tác

  1. Đêm cuối
  2. Giấc mơ buồn
  3. Giận hờn
  4. Hình bóng cha già
  5. Lời tỏ tình dễ thương
  6. Lời tỏ tình rễ thương 2
  7. Lòng nẹ 2
  8. Nhớ về em
  9. Những đêm lạnh giá
  10. Thương quá quê hương (?)
  11. Tình cha
  12. Tình mẹ
  13. Trọn đời yêu em
  14. Vòng tay lỡ làng
  15. Yêu dân tộc Việt Nam

Trích đoạn trong bài Tình cha:

Còn nhớ những ngày ấy, những đêm trường giá lạnh
Và Cha nằm ôm con sưởi ấm những canh dài
Nhè nhẹ hôn con và Cha khẽ nói: Này con yêu ơi...
Con hãy nhớ... hãy nhớ... lời Cha sống cho nên người
và con hãy chớ bao giờ dối gian...
Đọc thêm!

ngọc sơn

Sinh ngày 26/11/1970 tại đồ Sơn, Hải Phòng. Quê quán: Quảng Nam - Ðà Nẵng. Cùng với Ngọc Hải và Ngọc Hà, ba anh em Ngọc sơn đã từng thực hiện nhiều chương trình ca nhạc. Với giọng nam cao, ấm, khỏe có âm vựng khá rộng; với một phong cách chuyên nghiệp Ngọc Sơn không chỉ để lại cho khán giả trong nước và quốc tế ấn tượng với những ca khúc dân tộc đằm thắm, trữ tình mà anh còn có sức cuốn hút bởi nhiều thể loại âm nhạc khác nhau như Pop, Rap, Rock....
Sự nghiệp ca hát của Ngọc sơn khá thành công với gần trăm dĩa CD ca nhạc, album cá nhân, hoặc
những tuyển tập trong 30 bài nhạc bằng tiếng Việt hay nước ngoài do chính anh sáng tác.

Các giải thưởng:

Hạng I những giọng ca hay các tỉnh Miền Tây năm 1985, Ca sĩ được mến mộ nhất năm 1989 tại Nha Trang, CD Ngọc Sơn Pop 1 đoạt giải dĩa hát vàng năm 1997 v,v, ... Đọc thêm!

Trang